Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 8. KINH TIẾNG GẦM SƯ TỬ

(Mahāsīhanādasutta)
Bản tóm tắt→

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Uruññā, tại khu rừng nai Kaṇṇakatthala.

Khi ấy, người tu lõa thể Kassapa đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, liền chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, ông đứng sang một bên. Đứng sang một bên, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn điều này:

“Thưa tôn giả Gotama, tôi có nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh (tapa), ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ (lūkhājīvi)’. Thưa tôn giả Gotama, những ai nói rằng: ‘Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh, ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ’, liệu họ có đang nói đúng những gì tôn giả Gotama đã nói, họ không vu khống tôn giả Gotama bằng những điều không thật, họ giải thích Điều dạy (pháp/dhamma) thuận theo Điều dạy, và không có một người đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách? Vì chúng tôi không muốn vu khống tôn giả Gotama.”

"Này Kassapa, những ai nói rằng: ‘Sa-môn Gotama chê bai mọi hình thức khổ hạnh, ngài hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ’, họ không nói đúng những gì ta đã nói, và họ vu khống ta bằng những điều không thật, không có thật. Ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống kham khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi khốn cùng (ác thú/apāya), cõi xấu (đọa xứ/duggati), cõi đọa đày (vinipāta), địa ngục (niraya). Nhưng ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống kham khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi tốt đẹp (thiện thú/sugati), thế giới chư thiên (thiên giới/sagga loka).

Ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống ít đau khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi khốn cùng, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng ở đây, này Kassapa, với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá giới hạn con người, ta thấy một số người tu khổ hạnh sống ít đau khổ, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới chư thiên. Này Kassapa, vì ta thấy rõ (tuệ tri/pajānāti) sự đến, sự đi, sự chết và sự Tái sinh (sinh/upapatti) của những người tu khổ hạnh này đúng như thật, làm sao ta có thể chê bai mọi hình thức khổ hạnh, hay hoàn toàn chỉ trích và lên án mọi người tu khổ hạnh sống kham khổ?

Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người hiểu biết, tinh tế, đã từng tranh luận với người khác, sắc bén như những người bắn đứt sợi tóc. Họ đi khắp nơi, dường như dùng trí tuệ của mình để phá vỡ các quan điểm. Giữa ta và họ, có những điểm đồng tình, có những điểm không đồng tình. Những gì họ nói là ‘tốt’, ta cũng nói là ‘tốt’. Những gì họ nói là ‘không tốt’, ta cũng nói là ‘không tốt’. Những gì họ nói là ‘tốt’, ta lại nói là ‘không tốt’. Những gì họ nói là ‘không tốt’, ta lại nói là ‘tốt’.

Những gì ta nói là ‘tốt’, người khác cũng nói là ‘tốt’. Những gì ta nói là ‘không tốt’, người khác cũng nói là ‘không tốt’. Những gì ta nói là ‘không tốt’, người khác lại nói là ‘tốt’. Những gì ta nói là ‘tốt’, người khác lại nói là ‘không tốt’.

8. KINH CA-DIẾP SƯ TỬ HỐNG

(Kassapa-Sìhanàda Sutta)

(Kinh nầy còn có tên là Kinh “Ðại sư tử hống” - Mahàsìhanàda Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn ở tại Ujunnà (Uy-nhã-quốc), tại vườn nai Kannakatthala. Lúc bấy giờ, lõa thể Kassapa (Ca-diếp) đến chỗ đức Phật, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với đức Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, lõa thể Kassapa thưa với Thế Tôn:

2. - Tôn giả Gotama, tôi nghe như vầy: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, có phải những vị ấy nói đúng lời của Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã vu oan không xác thật cho Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã tuyên bố như pháp, thuận pháp không? Có những chủ trương nào chính và phụ gặp phải cật nạn không Thật sự chúng tôi không muốn chỉ trích sai lạc Tôn giả Gotama.

3. - Này Kassapa, những ai nói: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, những vị ấy nói không đúng lời của Ta, đã vu oan không xác thật cho Ta. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện chú, thiên giới, thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này Kassapa, khi đã biết đúng với sự thật sự lai, khứ, sanh, diệt của những người tu khổ hạnh như vậy, làm sao Ta lại chỉ trích mọi khổ hạnh và tuyệt đối phỉ báng mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ?

4. Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những nhà bác học, tế nhị, biệt tài trong tranh luận, (nhà thiện xạ) bắn chẻ hai sợi tóc, đi chỗ này chỗ kia như đả phá mọi tà kiến với trí tuệ của mình. Giữa Ta và những vị này, có những điểm tương đồng và có những điểm không tương đồng. Có điểm những vị này công nhận là phải, chúng tôi cũng công nhận là phải. Có điểm những vị này công nhận là không phải, chúng tôi cũng công nhận là không phải. Có điểm những vị này không công nhận là phải, chúng tôi công nhận là phải. Có điểm chúng tôi công nhận là phải, các vị này cũng công nhận là phải. Có điểm chúng tôi không công nhận là phải, các vị này cũng không công nhận là phải. Có điểm chúng tôi công nhận là phải, các vị này không công nhận là phải. Có điểm chúng tôi không công nhận là phải, các vị này công nhận là phải.

1. Thảo luận về sự chất vấn (Samanuyuñjāpanakathā)

Ta đến gặp họ và nói thế này: 'Này các hiền giả, những điểm nào chúng ta không đồng tình, hãy gác lại. Những điểm nào chúng ta đồng tình, ở đó những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng:

“Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện (bất thiện pháp/akusalā dhammā), được xem là không thiện, có lỗi (sāvajjā), được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ (đoạn trừ/pajahati) không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, sa-môn Gotama hay các vị đạo sư của các hội chúng khác?”’

Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Sa-môn Gotama đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với các vị đạo sư của các hội chúng khác’. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.

Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện (thiện pháp/kusalā dhammā), được xem là thiện, không có lỗi (anavajjā), được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Ai là người đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, sa-môn Gotama hay các vị đạo sư của các hội chúng khác?’

Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với các vị đạo sư của các hội chúng khác’. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.

Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Ai là người đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, hội chúng đệ tử của Gotama hay hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác?’

Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều không thiện, được xem là không thiện, có lỗi, được xem là có lỗi, không nên thực hành, được xem là không nên thực hành, không xứng đáng với bậc thánh, được xem là không xứng đáng với bậc thánh, đen tối, được xem là đen tối. Hội chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn từ bỏ không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác’. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.

Lại nữa, này Kassapa, những người hiểu biết hãy chất vấn, dò xét, và thảo luận với bậc đạo sư hoặc với hội chúng: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Ai là người đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, hội chúng đệ tử của Gotama hay hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác?’

Này Kassapa, có khả năng những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận sẽ nói thế này: ‘Những Điều nào của các vị này là những Điều thiện, được xem là thiện, không có lỗi, được xem là không có lỗi, nên thực hành, được xem là nên thực hành, xứng đáng với bậc thánh, được xem là xứng đáng với bậc thánh, trong sáng, được xem là trong sáng. Hội chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn thọ trì không còn sót lại những Điều này và sống như vậy, so với hội chúng đệ tử của các vị đạo sư khác’. Như vậy, này Kassapa, những người hiểu biết khi chất vấn, dò xét và thảo luận phần lớn sẽ ca ngợi chính chúng ta ở điểm này.

5. Ta đến các vị ấy và nói: “Này các Hiền giả, những điểm bất đồng ý, hãy để chúng yên như vậy. Những điểm đồng ý, các vị có trí hãy hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giáo sư với giáo sư, hay chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng đáng bậc Thánh, giữa những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa quí vị hiền giả này, ai đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, Sa-môn Gotama hay những vị Tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

6. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra. Khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này, Sa-môn Gotama đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, còn những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ xả ly một phần thôi”. Như vậy, này Kassapa, những vị có trí khi hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

7. Này Kassapa, lại nữa các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa quí vị hiền giả này ai đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, Sa-môn Gotama hay những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?

8. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra. Khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, các vị này nói: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, Sa-môn Gotama đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, còn những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ thành tựu một phần”. Như vậy này Kassapa, những vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

9. Này Kassapa, lại nữa, các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này ai đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, chúng đệ tử của Gotama hay chúng đệ tử của những tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

10. Này Kassapa, và sự tình này xảy ra khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp bất thiện hay được xem là bất thiện, những pháp lỗi lầm hay được xem là lỗi lầm, những pháp không nên tuân hành hay được xem là không nên tuân hành, những pháp không xứng bậc Thánh hay được xem là không xứng bậc Thánh, những pháp ô nhiễm hay được xem là ô nhiễm, giữa những vị hiền giả này, chúng đệ tử của Gomata đã hoàn toàn xả ly những pháp ấy, còn chúng đệ tử của những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ xả ly một phần thôi”. Như vậy, này Kassapa, những vị có trí khi hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

11. Này Kassapa, lại nữa, các vị có trí lại hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, giữa giáo sư với giáo sư, giữa chúng đệ tử với chúng đệ tử: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa những vị hiền giả này ai đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, chúng đệ tử của Gotama hay chúng đệ tử của những tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia?”

12. Này Kassapa, sự tình này xảy ra khi các vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau. Các vị này nói: “Những pháp thiện hay được xem là thiện, những pháp không lỗi lầm hay được xem là không lỗi lầm, những pháp nên tuân hành hay được xem là nên tuân hành, những pháp xứng bậc Thánh hay được xem là xứng bậc Thánh, những pháp thanh tịnh hay được xem là thanh tịnh, giữa những vị hiền giả này, chúng đệ tử của Gotama đã hoàn toàn thành tựu những pháp này, còn chúng đệ tử của những vị tôn giả, sư trưởng các giáo phái kia chỉ thành tựu một phần thôi”. Như vậy này Kassapa, những vị có trí hỏi nhau, tìm hiểu và đàm luận với nhau, một phần lớn tán thán chúng tôi về vấn đề này.

2. Tám Bước Thiện (Ariyaaṭṭhaṅgikamagga)

Này Kassapa, có một con đường, có một phương pháp thực hành, người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: ‘Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật’. Này Kassapa, con đường đó là gì, phương pháp thực hành đó là gì, mà người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: ‘Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật’? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo/Ariya Aṭṭhaṅgika Magga). Cụ thể là: Nhìn Thấy Thiện (Chánh kiến/Sammā-diṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (Chánh tư duy/Sammā-saṅkappa), Lời Nói Thiện (Chánh ngữ/Sammā-vācā), Hành Động Thiện (Chánh nghiệp/Sammā-kammanta), Đời Sống Thiện (Chánh mạng/Sammā-ājīva), Nỗ lực Thiện (Chánh tinh tấn/Sammā-vāyāma), Tự Quan Sát Thiện (Chánh niệm/Sammā-sati), Định thiện (Chánh định/Sammā-samādhi). Này Kassapa, đây là con đường, đây là phương pháp thực hành, mà người thực hành theo đó sẽ tự mình biết, tự mình thấy: ‘Chỉ có sa-môn Gotama là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói Điều dạy, nói Kỷ luật’."

13. Này Kassapa, có con đường, có phương pháp khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và tự biết: “Sa-môn Gotama nói đúng thời, nói chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật”. Này Kassapa, con đường ấy là gì, phương pháp ấy là gì khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và biết: “Sa-môn Gotama nói đúng thời, nói chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật?” Chính là con đường Thánh tám ngành tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Kassapa, chính con đường này, chính phương pháp này khiến ai tuân theo sẽ tự thấy và tự biết: “Samôn Gotama nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lợi ích, nói hợp pháp, nói đúng luật”.

3. Các hình thức thực hành khổ hạnh (Tapopakkamakathā)

Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn:

"Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn được xem là đời sống sa-môn (sa-môn hạnh/sāmañña) và đời sống bà-la-môn (bà-la-môn hạnh/brahmañña). Người ấy sống lõa thể, sống buông lỏng, liếm sạch tay, không nhận lời mời ‘hãy đến’, không nhận lời mời ‘hãy đứng lại’, không nhận thức ăn mang đến tận nơi, không nhận thức ăn nấu riêng cho mình, không chấp nhận lời mời. Người ấy không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng chảo, không nhận qua ngưỡng cửa, không nhận qua cây gậy, không nhận qua cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận từ nơi quyên góp, không nhận từ nơi có chó đứng đợi, không nhận từ nơi ruồi nhặng bu quanh, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu lên men, không uống nước cám. Người ấy nhận thức ăn từ một nhà và chỉ ăn một miếng; hoặc nhận từ hai nhà và chỉ ăn hai miếng… nhận từ bảy nhà và chỉ ăn bảy miếng; nuôi sống bằng một bát, nuôi sống bằng hai bát…nuôi sống bằng bảy bát; ăn một ngày một bữa, hai ngày ăn một bữa… bảy ngày ăn một bữa. Cứ như vậy, người ấy thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần.

Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn cũng được xem là đời sống sa-mônđời sống bà-la-môn. Người ấy ăn rau, hoặc ăn lúa miêu, hoặc ăn lúa hoang, hoặc ăn da vụn, hoặc ăn rong rêu, hoặc ăn cám, hoặc ăn váng gạo, hoặc ăn bã vừng, hoặc ăn cỏ, hoặc ăn phân bò, sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng.

Thưa tôn giả Gotama, những hình thức thực hành khổ hạnh này của các sa-môn, bà-la-môn cũng được xem là đời sống sa-mônđời sống bà-la-môn. Người ấy mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải liệm người chết, mặc giẻ rách nhặt từ đống rác, mặc vỏ cây, mặc da linh dương, mặc áo da linh dương có móng, mặc áo bện bằng cỏ kusa, mặc áo bện bằng vỏ cây, mặc áo bện bằng dăm gỗ, mặc áo bện bằng tóc, mặc áo bện bằng lông đuôi ngựa, mặc áo bện bằng lông cú; chuyên tâm thực hành việc nhổ tóc và râu; đứng liên tục, từ chối chỗ ngồi; ngồi xổm liên tục, chuyên tâm thực hành việc ngồi xổm; nằm trên gai, dọn chỗ ngủ trên gai; nằm trên ván gỗ; nằm trên đất trần; nằm nghiêng một bên, mặc cho bụi bẩn bám đầy người; sống ngoài trời, ngồi đâu cũng được; chuyên tâm thực hành việc ăn phân; chuyên tâm thực hành việc không uống nước lạnh; xuống nước tắm ba lần mỗi ngày (sáng, trưa, tối) để gột rửa."

14. Nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được những Sa-môn và Bà-la-môn công nhận là đưa đến Sa-môn quả và Bà-la-môn quả: Sống lõa thể, - Sống phóng túng, không theo lễ nghi (như đứng mà đi đại tiểu tiện, đứng ăn, không chịu ngồi theo lễ nghi), - Liếm tay cho sạch (sau khi ăn, không chịu rửa), Ði khất thực không chịu bước tới (theo yêu cầu để thí chủ bỏ đồ ăn vào bát), - Không nhận đồ ăn mang đến (cho mình, trước khi đi khất thực), - Không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình. - Không nhận mời đi ăn. - Không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo (sợ nồi chảo bị nạo, bị cạy để cúng dường đồ ăn), - Không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn (sợ đồ ăn chỉ do một người cho), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai (sợ đứa con trong bụng mẹ bị thiệt thòi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú (sợ sữa đàn bà sẽ bớt đi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu (sợ làm trở ngại sự giao cấu), - Không nhận đồ ăn đi quyên (bởi tín đồ khi có nạn đói), - Không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng (sợ chó mất phần ăn), - Không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu (sợ ruồi mất phần ăn), - Không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. - Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy chỉ nuôi sống với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần.

Này Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được chúng Sa-môn, Bà-la-môn công nhận là đưa đến Sa-môn quả và Bà-la-môn quả. Vị này chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, ăn nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.

Này Hiền giả Gotama, những pháp khổ hạnh này được công nhận bởi những Sa-môn, Bà-la-môn là đưa đến Sa-môn và Bà-la-môn quả. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da của con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường (kusa), mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người theo tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, không dùng chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, theo hạnh ăn các uế vật (phân bò, nước tiểu bò, tro và đất), sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi).

4. Sự vô ích của các hình thức khổ hạnh (Tapopakkamaniratthakathā)

"Này Kassapa, cho dù một người sống lõa thể, sống buông lỏng, liếm sạch tay… [cho đến]… thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức (giới uẩn/sīlasampadā), sự trọn vẹn về tâm (tâm uẩn/cittasampadā), và sự trọn vẹn về trí tuệ (tuệ uẩn/paññāsampadā) của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương (từ/Mettā) không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch (đoạn tận/khayā) các nguồn ác (lậu hoặc/Āsava), tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri/abhijānāti), chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm (tâm giải thoát/cetovimutti), sự giải thoát của trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti) không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu… [cho đến]… sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, và sự trọn vẹn về trí tuệ của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha… [cho đến]… xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nhưng nếu sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, và sự trọn vẹn về trí tuệ của người ấy chưa được phát triển, chưa được chứng ngộ, thì người ấy vẫn còn cách xa đời sống sa-môn, cách xa đời sống bà-la-môn. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn."

Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: “Thật khó làm thay, thưa tôn giả Gotama, là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn.”

"Này Kassapa, ngoài đời người ta thường nói: ‘Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn’. Này Kassapa, nếu chỉ cần sống như người sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay… [cho đến]… thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Ta hãy sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay… [cho đến]… thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn’. Này Kassapa, đó là khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu… [cho đến]… sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Ta hãy ăn rau, hoặc ăn lúa miêu… [cho đến]… sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn’. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha… [cho đến]… xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn gọi là khó làm, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Ta hãy mặc vải gai, mặc vải gai pha… [cho đến]… xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn’. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: “Thật khó nhận biết thay, thưa tôn giả Gotama, là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn.”

"Này Kassapa, ngoài đời người ta thường nói: ‘Thật khó làm thay là đời sống sa-môn, thật khó làm thay là đời sống bà-la-môn’. Này Kassapa, cho dù một người sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay… [cho đến]… thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Người này sống lõa thể, sống buông thả, liếm sạch tay… [cho đến]… thực hành việc ăn uống theo định kỳ, thậm chí nửa tháng một lần’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn’. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người ăn rau, hoặc ăn lúa miêu… [cho đến]… sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Người này ăn rau, hoặc ăn lúa miêu… [cho đến]… sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn trái cây rụng’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn’. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn.

Này Kassapa, cho dù một người mặc vải gai, mặc vải gai pha… [cho đến]… xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa. Nếu chỉ với cách sống đó, chỉ với hình thức khổ hạnh đó mà đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó nhận biết, thì lời nói ấy không đúng.

Bởi vì điều này, thì một người gia chủ, hay con của gia chủ, hay thậm chí một nữ tỳ xách nước cũng có thể làm được: ‘Người này mặc vải gai, mặc vải gai pha… [cho đến]… xuống nước tắm ba lần mỗi ngày để gột rửa’.

Nhưng này Kassapa, có một điều khác biệt, có hình thức khác biệt với khổ hạnh đó, điều làm cho đời sống sa-môn hay đời sống bà-la-môn trở nên khó làm, cực kỳ khó làm, và đúng khi nói rằng: ‘Thật khó nhận biết thay là một sa-môn, thật khó nhận biết thay là một bà-la-môn’. Này Kassapa, khi nào một tỳ kheo phát triển Tâm yêu thương không hận thù, không ác ý, và nhờ cạn sạch các nguồn ác, tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của trí tuệ không còn nguồn ác ngay trong hiện tại. Này Kassapa, tỳ kheo ấy được gọi là một sa-môn, cũng được gọi là một bà-la-môn."

15. - Này Kassapa nếu một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần, nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa Tỷ kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, này Kassapa nếu người ấy chỉ ăn lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivàra… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống, nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn với các vải khác,… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi), nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

16. Khi nghe nói đến đây, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!

− Này Kassapa, đó là lời nói thường tình ở đời: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh! Này Kassapa, như một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này Kassapa, nếu sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng ăn một lần”.

Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự tận diệt các lậu hoặc tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống, nếu sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh”. Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rừng để sống”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn!

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi), nếu có sự khó hành, sự rất khó hành của Samôn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi)”, này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

17. Khi nghe nói vậy, lão thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, khó biết thay một vị Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!

− Này Kassapa, đó là lời nói thường tình ở đời: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn !” Này Kassapa, nếu một người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần”. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, chỉ tùy thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh này: “Tôi sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay… như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, vẫn khó biết vẫn thật khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn, do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay, một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng đáng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi chỉ ăn lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức… ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực khổ hạnh này, vẫn khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay, một Sa-môn! Khó biết thay, một Bà-la-môn”.

Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

Này Kassapa, nếu một người mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác… sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này thời thật không xứng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh: “Tôi mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác … sống một đêm tắm ba lần”. Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này vẫn rất khó biết một người Sa-môn hay một người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói: “Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!” Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.

5. Sự trọn vẹn về Đạo đức, Tâm và Trí tuệ (Sīlasamādhipaññāsampadā)

Khi được nói vậy, người tu lõa thể Kassapa nói với Thế Tôn: “Thưa tôn giả Gotama, thế nào là sự trọn vẹn về đạo đức, thế nào là sự trọn vẹn về tâm, thế nào là sự trọn vẹn về trí tuệ?”

"Ở đây, này Kassapa, Người Đến Như Vậy (Như Lai/Tathāgata) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Tỉnh Giác Trọn Vẹn… [cho đến]… thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, có hành động và lời nói thiện, có đời sống trong sạch, trọn vẹn về đạo đức, phòng hộ các giác quan, có sự nhận biết rõ ràng, và sống biết đủ.

Và này Kassapa, thế nào là tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức? Ở đây, này Kassapa, tỳ kheo từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, tránh xa việc giết hại sinh mệnh, bỏ gậy gộc, bỏ đao kiếm, biết xấu hổ, có lòng thương xót, sống với lòng từ bi hướng đến lợi ích của mọi sinh linh. Đây thuộc về sự trọn vẹn về đạo đức của vị ấy… [cho đến]…

Hoặc như một số sa-môn, bà-la-môn, dù ăn thức ăn do tín đồ cúng dường, vẫn nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các tà thuật như: bói toán, cầu nguyện… [cho đến]… bốc thuốc chữa bệnh. Vị ấy tránh xa tà mạng qua các tà thuật như vậy. Đây thuộc về sự trọn vẹn về đạo đức của vị ấy.

Này Kassapa, tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức như vậy không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ sự bảo vệ của đạo đức. Này Kassapa, giống như một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã tiêu diệt kẻ thù, không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ đã dẹp yên quân địch; cũng vậy, này Kassapa, tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức như vậy không thấy sợ hãi từ bất cứ đâu nhờ sự bảo vệ của đạo đức. Vị ấy, được trang bị bằng khối đạo đức cao thượng này, trải nghiệm niềm hạnh phúc (lạc/sukha) không có lỗi ở bên trong. Này Kassapa, như vậy là tỳ kheo có sự trọn vẹn về đạo đức. Đây là sự trọn vẹn về đạo đức… [cho đến]… vị ấy chứng và an trú Thiền-na (Thiền/jhāna) thứ nhất. Đây thuộc về sự trọn vẹn về tâm của vị ấy… [cho đến]… chứng và an trú Thiền-na thứ hai… Thiền-na thứ ba… Thiền-na thứ tư. Đây thuộc về sự trọn vẹn về tâm của vị ấy. Đây là sự trọn vẹn về tâm.

Với tâm được định tĩnh như vậy… [cho đến]… vị ấy hướng tâm, dồn tâm đến tri kiến… Đây thuộc về sự trọn vẹn về trí tuệ của vị ấy… [cho đến]… vị ấy biết rằng ‘không còn sự tồn tại nào ở trạng thái này nữa’. Đây thuộc về sự trọn vẹn về trí tuệ của vị ấy. Đây là sự trọn vẹn về trí tuệ.

Này Kassapa, không có sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, sự trọn vẹn về trí tuệ nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn sự trọn vẹn về đạo đức, sự trọn vẹn về tâm, sự trọn vẹn về trí tuệ này.

18. Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch đức Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, thế nào là giới cụ túc? Thế là tâm cụ túc? Thế nào là tuệ cụ túc?

− Này Kassapa, nay ở đời, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri… (xem Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-42)… thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, sanh hoạt trong sạch, giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, đầy đủ chánh niệm, chánh trí và biết tri túc.

Này Kassapa, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Kassapa, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-61),… Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được an ổn, để khỏi làm các điều đã hứa… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 62)… ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới cụ túc của vị ấy. Và như vậy, này Kassapa, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ giới luật cụ túc nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về sự hộ trì giới luật. Này Kassapa, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi chỗ nào về sự thù địch. Cũng vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy nhờ giới luật cụ túc, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về sự hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ cụ túc giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh. Như vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo giới luật cụ túc.

19. Này Kassapa, thế nào là vị Tỷ-kheo bảo hộ các căn? Này Kassapa, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn số 64)… những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh… Như vậy, này Kassapa Tỷ-kheo hộ trì các căn… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 64-75)… khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc từ ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Kassapa, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Kassapa Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Như vậy là tâm cụ túc của vị ấy.

Lại nữa, này Kassapa, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhất tâm… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77-79)… đệ tam thiền (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 79-81)… chứng và trú vào thiền thứ tư… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 81-82)… đó là tâm cụ túc của vị ấy. Này Kassapa, đó là tâm cụ túc. 20. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.”

Này Kassapa, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt khéo giũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi dây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy ở trên tay sẽ thấy: “Hòn ngọc lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt”. Cũng vậy, này Kassapa, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: “Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy, thức ta lại nương tựa và bị trói buộc”. Ðó là tuệ cụ túc của vị ấy… (như Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 85-98)… Vị ấy biết: “… không có đời sống nào khác nữa”. Ðó là tuệ cụ túc của vị ấy. Này Kassapa, đó là tuệ cụ túc.

Này Kassapa, và không có một giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới cụ túc, tâm cụ túc và tuệ cụ túc này.

6. Tiếng gầm sư tử (Sīhanādakathā)

Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao đạo đức. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi đạo đức. Cho đến mức độ đạo đức cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về đạo đức cao thượng.

Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Cho đến mức độ thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt cao thượng.

Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao trí tuệ. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi trí tuệ. Cho đến mức độ trí tuệ cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về trí tuệ cao thượng.

Này Kassapa, có một số sa-môn, bà-la-môn đề cao sự giải thoát. Họ dùng nhiều cách để ca ngợi sự giải thoát. Cho đến mức độ giải thoát cao tột của bậc thánh, ta không thấy ai ngang bằng với mình ở đó, huống hồ là hơn. Trái lại, chính ta là người vượt trội ở đó, tức là về sự giải thoát cao thượng.

Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử (sư tử hống/sīhanāda), nhưng ngài chỉ rống trong ngôi nhà trống, chứ không rống giữa các hội chúng’. Cần phải nói với họ: ‘Đừng nói như vậy’. Cần phải nói với họ: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử, và ngài rống giữa các hội chúng’.

Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, nhưng ngài không rống một cách tự tin đầy đủ’. Cần phải nói với họ: ‘Đừng nói như vậy’. Cần phải nói với họ: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, và ngài rống một cách tự tin đầy đủ’.

Này Kassapa, có khả năng những người du sĩ ngoại đạo sẽ nói thế này: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, ngài rống một cách tự tin đầy đủ, nhưng người ta không hỏi ngài câu hỏi… [cho đến]… người ta có hỏi ngài câu hỏi; nhưng ngài không trả lời được câu hỏi của họ… [cho đến]… ngài có trả lời được câu hỏi của họ; nhưng ngài không làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời… [cho đến]… ngài có làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời; nhưng họ không nghĩ rằng điều đó đáng để nghe… [cho đến]… họ có nghĩ rằng điều đó đáng để nghe; nhưng sau khi nghe họ không có niềm tin… [cho đến]… sau khi nghe họ có niềm tin; nhưng họ không thể hiện thái độ tin tưởng… [cho đến]… họ có thể hiện thái độ tin tưởng; nhưng họ không thực hành theo đúng như vậy… [cho đến]… họ có thực hành theo đúng như vậy; nhưng những người thực hành không đạt được kết quả’. Cần phải nói với họ: ‘Đừng nói như vậy’. Cần phải nói với họ: ‘Sa-môn Gotama nói tiếng gầm sư tử, ngài rống giữa các hội chúng, ngài rống một cách tự tin đầy đủ, người ta có hỏi ngài câu hỏi, ngài có trả lời được câu hỏi của họ, ngài có làm hài lòng tâm trí họ bằng câu trả lời, họ nghĩ rằng điều đó đáng để nghe, sau khi nghe họ có niềm tin, họ thể hiện thái độ tin tưởng, họ thực hành theo đúng như vậy, và những người thực hành đạt được kết quả’.

21. Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương giới luật. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán giới luật. Này Kassapa, nói về giới luật tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng giới luật của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về giới luật, tức là tăng thượng giới.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương khổ hạnh, yểm ly. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán khổ hạnh, yểm ly. Này Kassapa, nói về khổ hạnh yểm ly tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được khổ hạnh yểm ly của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về khổ hạnh yểm ly, tức là tăng thượng yểm ly.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương trí tuệ. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán trí tuệ. Này Kassapa, nói về trí tuệ tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được trí tuệ của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về trí tuệ, tức là tăng thượng trí tuệ.

Này Kassapa, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương giải thoát. Những vị này dùng nhiều phương tiện tán thán giải thoát. Này Kassapa, nói về giải thoát tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được giải thoát của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy, Ta hơn trên tất cả về giải thoát, tức là tăng thượng giải thoát.

22. Này Kassapa, sự tình này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử nhưng chỉ tại chỗ vắng người, không ở giữa đại chúng”. Nên nói với chúng: “Chớ có nói như vậy. Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử tại chỗ vắng người và cả giữa đại chúng”. Này Kassapa, nên nói với chúng như vậy.

Này Kassapa, sự tình này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi: “Sa-môn Gotama rống tiếng rống con sư tử giữa đại chúng, nhưng rống không với tinh thần vô úy… với tinh thần vô úy… và “Không có ai hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi gì… và “có người hỏi Sa-môn Gotama”… “Khi có người hỏi, Sa-môn Gotama không thể trả lời”… và “Khi có người hỏi, Sa-môn Gotama trả lời cho chúng”… và “Dầu cho có trả lời, câu trả lời không làm tâm người ta thỏa mãn”… và “Câu trả lời làm tâm người ta thỏa mãn”… “Nhưng người ta không xem ý kiến của Sa-môn Gotama là đáng được nghe”… “Người ta xem ý kiến của Sa-môn Gotama là đáng được nghe”… “Dầu cho có được nghe, người ta cũng không tin tưởng”… “Người ta nghe có lòng tin tưởng”… “Dầu cho người ta có lòng tin tưởng, người ta không biểu lộ lòng tin tưởng”… “Người ta có lòng tin tưởng và biểu lộ lòng tin tưởng” … “Dầu cho có biểu lộ lòng tin tưởng, người ta không đạt đến chỗ như thực”… “Người ta đạt đến chỗ như thực”… “Dầu cho đạt đến chỗ như thực, người ta không đem ra thực hành được”. Nên nói với chúng: “Chớ có nói như vậy. Samôn Gotama rống tiếng rống con sư tử, rống ở giữa đại chúng, rống với tinh thần vô úy, có người hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama trả lời khi được hỏi, câu trả lời làm tâm người ta được thỏa mãn, người ta xem ý kiến của Sa-môn Gotama đáng được nghe, sau khi được nghe người ta tin tưởng, khi có lòng tin tưởng người ta biểu lộ lòng tin tưởng, người ta đạt đến chỗ như thực, đạt đến chỗ như thực, người ta đem ra thực hành”. Này Kassapa, nên nói với chúng như vậy.

7. Thời gian thử thách cho ngoại đạo (Titthiyaparivāsakathā)

Này Kassapa, có một lần ta đang trú ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Tại đó, một người tu phạm hạnh tên là Nigrodha đã hỏi ta một câu hỏi về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt. Khi được hỏi về sự thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt, ta đã trả lời. Và sau khi ta trả lời, ông ấy đã vô cùng hoan hỉ."

“Thưa Thế Tôn, ai nghe Điều dạy của Thế Tôn mà lại không vô cùng hoan hỉ? Con cũng vô cùng hoan hỉ khi nghe Điều dạy của Thế Tôn. Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy hình ảnh; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Điều dạy và hội chúng tỳ kheo. Xin cho con được rời bỏ gia đình (xuất gia/pabbajja) và nhận giới cụ túc (thọ đại giới/upasampada) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn.”

“Này Kassapa, ai trước đây là ngoại đạo, nay muốn rời bỏ gia đình, muốn nhận giới cụ túc trong Điều dạy và Kỷ luật này, người đó phải trải qua thời gian thử thách (biệt trú/parivāsa) bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các tỳ kheo hài lòng, họ sẽ cho rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo. Tuy nhiên, ta nhận thấy có sự khác biệt giữa các cá nhân ở đây.”

“Thưa Thế Tôn, nếu những người trước đây là ngoại đạo, nay muốn rời bỏ gia đình, muốn nhận giới cụ túc trong Điều dạy và Kỷ luật này, phải trải qua thời gian thử thách bốn tháng, và sau bốn tháng, nếu các tỳ kheo hài lòng, họ sẽ cho rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo. Con sẵn sàng trải qua thời gian thử thách bốn năm, và sau bốn năm, nếu các tỳ kheo hài lòng, xin hãy cho con rời bỏ gia đình và truyền giới cụ túc để trở thành tỳ kheo.”

Người tu lõa thể Kassapa đã được rời bỏ gia đìnhnhận giới cụ túc dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn. Không lâu sau khi nhận giới cụ túc, tôn giả Kassapa sống một mình, tách biệt, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết chí. Và không bao lâu, mục đích vô thượng của đời sống thanh tịnh mà các thiện nam tử đã chân chính rời bỏ gia đình để hướng tới, vị ấy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại.

Vị ấy biết rõ: “Sự Tái sinh (sinh/jāti) đã cạn sạch, đời sống thanh tịnh đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn sự tồn tại nào ở trạng thái này nữa”. Và tôn giả Kassapa đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Kinh Tiếng Rống Của Sư Tử thứ tám kết thúc.

23. Này Kassapa, một thời Ta ở tại Vương Xá trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, có người Phạm chí tu khổ hạnh tên là Nigrodha đến hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm ly. Khi được hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm ly, Ta đã trả lời. Và khi được Ta trả lời, vị ấy phát tâm hoan hỷ như với một hoan lạc tối thượng.

− Bạch Ðại đức, ai có thể sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, lại không hoan hỷ như với một hoan lạc tối thượng? Thật vi diệu thay, bạch Ðại đức! Thật vi diệu thay, bạch Ðại đức! Bạch Ðại đức, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Ðại đức, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.

24. - Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

− Bạch Ðại đức, nếu những người xưa kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.

Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Kassapa ở một mình an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng, ngộ và an trú: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Ðại đức Kassapa liễu tri như vậy.

Và đại đức Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.

-ooOoo-