Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 9. KINH POṬṬHAPĀDA

(Poṭṭhapādasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda

Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jeta’s Grove, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda đang trú tại hội trường tranh luận có mái che bằng cây Tinduka trong công viên của hoàng hậu Mallikā, cùng với một hội chúng lớn gồm khoảng ba trăm du sĩ ngoại đạo. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát đi vào Sāvatthi để khất thực.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthi. Ta hãy đi đến hội trường tranh luận có mái che bằng cây Tinduka trong công viên của hoàng hậu Mallikā, nơi du sĩ Poṭṭhapāda đang ở.” Rồi Thế Tôn đi đến hội trường tranh luận có mái che bằng cây Tinduka trong công viên của hoàng hậu Mallikā.

Lúc bấy giờ, du sĩ Poṭṭhapāda đang ngồi cùng với hội chúng lớn du sĩ ngoại đạo, họ đang ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ bàn luận nhiều loại chuyện phiếm. Như là: chuyện vua chúa, chuyện kẻ trộm, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện đồ ăn, chuyện thức uống, chuyện quần áo, chuyện giường chõ, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện họ hàng, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện quốc gia, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người chết, chuyện tạp lục, chuyện thế giới, chuyện đại dương, chuyện có và không có.

Du sĩ Poṭṭhapāda thấy Thế Tôn từ xa đi đến; thấy vậy, liền bảo hội chúng của mình im lặng: “Các tôn giả hãy im lặng, các tôn giả đừng làm ồn. Sa-môn Gotama đang đi đến. Tôn giả ấy thích sự im lặng, tán thán sự im lặng. Biết đâu, thấy hội chúng im lặng, ngài sẽ nghĩ đến việc ghé qua.” Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.

Rồi Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Poṭṭhapāda. Du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: “Kính mời Thế Tôn đến. Chào mừng Thế Tôn. Đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Kính thỉnh Thế Tôn ngồi, chỗ ngồi đã được dọn sẵn.”

Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã dọn sẵn. Du sĩ Poṭṭhapāda lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống một bên. Khi du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi một bên, Thế Tôn nói với ông: “Này Poṭṭhapāda, các ông đang ngồi bàn luận về chủ đề gì, và câu chuyện gì đang bị bỏ dở giữa chừng?”

1.1. Thảo luận về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức

Khi được nói vậy, du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, hãy để qua một bên câu chuyện mà chúng con đang bàn luận. Câu chuyện đó Thế Tôn có thể nghe sau cũng không khó.

Bạch Thế Tôn, vài ngày trước đây, khi các sa-môn, bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau tụ tập tại hội trường, một cuộc thảo luận về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức (diệt thọ tưởng / abhisaññānirodha) đã nổ ra: ‘Thưa các tôn giả, sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức diễn ra như thế nào?’

Ở đó, một số người nói như sau: ‘Nhận thức (tưởng / saññā) của con người sinh ra và chấm dứt (diệt / nirujjhati) không có nguyên nhân (nhân / hetu), không có điều kiện (duyên / paccaya). Khi nào nó sinh ra, lúc đó người ta có Nhận thức. Khi nào nó chấm dứt, lúc đó người ta không có Nhận thức.’ Một số người giải thích sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức như vậy.

Người khác lại nói: ‘Thưa các tôn giả, điều đó không thể như vậy. Vì Nhận thức chính là cái tôi (ngã / attā) của con người. Nó đi vào và đi ra. Khi nào nó đi vào, lúc đó người ta có Nhận thức. Khi nào nó đi ra, lúc đó người ta không có Nhận thức.’ Một số người giải thích sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức như vậy.

Người khác lại nói: ‘Thưa các tôn giả, điều đó không thể như vậy. Vì có những sa-môn, bà-la-môn có thần thông lớn, có uy lực lớn. Họ kéo Nhận thức của người này vào và rút nó ra. Khi nào họ kéo vào, lúc đó người ta có Nhận thức. Khi nào họ rút ra, lúc đó người ta không có Nhận thức.’ Một số người giải thích sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức như vậy.

Người khác lại nói: ‘Thưa các tôn giả, điều đó không thể như vậy. Vì có những vị chư thiên có thần thông lớn, có uy lực lớn. Họ kéo Nhận thức của người này vào và rút nó ra. Khi nào họ kéo vào, lúc đó người ta có Nhận thức. Khi nào họ rút ra, lúc đó người ta không có Nhận thức.’ Một số người giải thích sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức như vậy.

Bạch Thế Tôn, lúc đó con liền nhớ đến Thế Tôn: ‘Ôi, Thế Tôn, ôi, Thiện Thệ, ngài là người rất am hiểu về những điều (pháp / dhamma) này.’ Thế Tôn rất am hiểu, Thế Tôn biết rõ về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức. Bạch Thế Tôn, sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức diễn ra như thế nào?"

1.2. Thảo luận về sự sinh ra và chấm dứt có điều kiện của Nhận thức

"Ở đây, này Poṭṭhapāda, những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng: ‘Nhận thức của con người sinh ra và chấm dứt không có nguyên nhân, không có điều kiện’, thì ngay từ đầu họ đã sai lầm. Vì sao vậy? Vì Nhận thức của con người sinh ra và chấm dứt là có nguyên nhân, có điều kiện. Thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt.

Sự rèn luyện đó là gì?" Thế Tôn nói.

"Ở đây, này Poṭṭhapāda, Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… Như vậy, này Poṭṭhapāda, tỳ kheo thành tựu giới hạnh…

Khi thấy Năm sự làm Mờ Yếu (5 triền cái / pañcanīvaraṇāni) này đã được loại bỏ (đoạn trừ / pahīna) trong chính mình, sự hân hoan sinh ra; từ hân hoan, hân hoan (hỷ / pīti) sinh ra; khi tâm có hân hoan, cơ thể được lắng dịu (khinh an / passambhati); với cơ thể được lắng dịu, vị ấy cảm nhận hạnh phúc (lạc / sukha); với người có hạnh phúc, tâm trở nên định tĩnh.

Vị ấy hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), hoàn toàn rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā), đạt được và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka), có nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Nhận thức trước đây của vị ấy về sự dễ chịu giác quan chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây là sự rèn luyện," Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, với sự lắng dịu (diệt / vūpasama) của chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, với hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Nhận thức vi tế và chân thực trước đây về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, với sự phai nhạt của hân hoan, tỳ kheo an trú trong Tâm bình thản (xả / upekkhā), có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh gọi là: ‘An trú trong hạnh phúc, với Tâm bình thảnsự Tự Quan Sát’. Nhận thức vi tế và chân thực trước đây về hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về hạnh phúcTâm bình thản, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về hạnh phúcTâm bình thản. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúchoàn toàn từ bỏ đau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, tỳ kheo đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, với sự thanh tịnh của Tâm bình thảnsự Tự Quan Sát. Nhận thức vi tế và chân thực trước đây về hạnh phúcTâm bình thản chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về trạng thái không đau khổ không hạnh phúc. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua hoàn toàn các Nhận thức về vật chất (sắc / rūpa), với sự tan biến của các Nhận thức về sự va chạm, không suy nghĩ đến (tác ý / manasikāra) các Nhận thức về sự đa dạng, tỳ kheo đạt được và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana), nghĩ rằng: ‘Không gian là vô tận’. Nhận thức trước đây về vật chất chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Không Gian là Vô Tận, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Không Gian là Vô Tận. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, tỳ kheo đạt được và an trú trong cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana), nghĩ rằng: ‘Sự Phân Biệt là vô tận’. Nhận thức vi tế và chân thực trước đây về cõi Không Gian là Vô Tận chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

“Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vượt qua hoàn toàn cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, tỳ kheo đạt được và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana), nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’. Nhận thức vi tế và chân thực trước đây về cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận chấm dứt. Tại thời điểm đó, có một Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Không Có Vật Gì, và vị ấy trở thành người có Nhận thức vi tế và chân thực về cõi Không Có Vật Gì. Như vậy, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức sinh ra, thông qua sự rèn luyện, một Nhận thức chấm dứt. Đây cũng là sự rèn luyện,” Thế Tôn nói.

"Khi tỳ kheo ở đây có Nhận thức của riêng mình, vị ấy đi từ trạng thái này sang trạng thái khác, dần dần chạm đến đỉnh cao của Nhận thức (saññagga). Khi đứng ở đỉnh cao của Nhận thức, vị ấy nghĩ: ‘Nếu ta chủ ý (tư duy / ceteti) thì thật tồi tệ, nếu ta không chủ ý thì tốt hơn. Nếu ta chủ ýtạo tác hoạt động (hành / abhisaṅkharoti), thì những Nhận thức này của ta sẽ chấm dứt, và những Nhận thức mang tính máy móc (thô / oḷārika) khác sẽ sinh ra; vậy ta không nên chủ ý và không nên tạo tác hoạt động.’ Vị ấy không chủ ý và không tạo tác hoạt động. Khi vị ấy không chủ ý và không tạo tác hoạt động, những Nhận thức đó chấm dứt, và những Nhận thức mang tính máy móc khác không sinh ra. Vị ấy chạm đến sự chấm dứt. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự đạt đến trạng thái nhận biết rõ ràng về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức theo tuần tự.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, trước đây ông đã từng nghe về sự đạt đến trạng thái nhận biết rõ ràng về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức theo tuần tự như vậy chưa?"

“Dạ chưa, bạch Thế Tôn. Con hiểu lời Thế Tôn dạy như sau: ‘Khi tỳ kheo ở đây có Nhận thức của riêng mình, vị ấy đi từ trạng thái này sang trạng thái khác, dần dần chạm đến đỉnh cao của Nhận thức. Khi đứng ở đỉnh cao của Nhận thức, vị ấy nghĩ: “Nếu ta chủ ý thì thật tồi tệ, nếu ta không chủ ý thì tốt hơn. Nếu ta chủ ýtạo tác hoạt động, thì những Nhận thức này của ta sẽ chấm dứt, và những Nhận thức mang tính máy móc khác sẽ sinh ra; vậy ta không nên chủ ý và không nên tạo tác hoạt động.” Vị ấy không chủ ý và không tạo tác hoạt động. Khi vị ấy không chủ ý và không tạo tác hoạt động, những Nhận thức đó chấm dứt, và những Nhận thức mang tính máy móc khác không sinh ra. Vị ấy chạm đến sự chấm dứt. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự đạt đến trạng thái nhận biết rõ ràng về sự chấm dứt hoàn toàn Nhận thức theo tuần tự.’”

“Đúng vậy, này Poṭṭhapāda.”

“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ chỉ ra một đỉnh cao của Nhận thức, hay Thế Tôn chỉ ra nhiều đỉnh cao của Nhận thức?”

“Này Poṭṭhapāda, ta chỉ ra một đỉnh cao của Nhận thức, và ta cũng chỉ ra nhiều đỉnh cao của Nhận thức.”

“Nhưng làm thế nào Thế Tôn chỉ ra một đỉnh cao của Nhận thức, và cũng chỉ ra nhiều đỉnh cao của Nhận thức?”

“Tùy theo cách mà người ta chạm đến sự chấm dứt, ta chỉ ra đỉnh cao của Nhận thức theo cách đó. Như vậy, này Poṭṭhapāda, ta chỉ ra một đỉnh cao của Nhận thức, và ta cũng chỉ ra nhiều đỉnh cao của Nhận thức.”

“Bạch Thế Tôn, Nhận thức sinh ra trước, sau đó sự hiểu biết (trí / ñāṇa) mới sinh ra; hay sự hiểu biết sinh ra trước, sau đó Nhận thức mới sinh ra; hay cả Nhận thứcsự hiểu biết sinh ra cùng một lúc, không trước không sau?”

“Này Poṭṭhapāda, Nhận thức sinh ra trước, sau đó sự hiểu biết mới sinh ra; và từ sự sinh ra của Nhận thức, có sự sinh ra của sự hiểu biết. Vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) như sau: ‘Chính vì điều kiện này mà sự hiểu biết của ta đã sinh ra.’ Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng: Nhận thức sinh ra trước, sau đó sự hiểu biết mới sinh ra, và từ sự sinh ra của Nhận thức, có sự sinh ra của sự hiểu biết.”

1.3. Thảo luận về Nhận thức và cái tôi

“Bạch Thế Tôn, Nhận thức có phải là cái tôi của con người, hay Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác?”

“Nhưng này Poṭṭhapāda, ông giả định cái tôi là gì?”

“Bạch Thế Tôn, con giả định cái tôi mang tính máy móc, có hình thể, cấu tạo từ bốn nguyên tố (đại / dhātu), tiêu thụ thức ăn vật lý.”

“Này Poṭṭhapāda, nếu cái tôi của ông mang tính máy móc, có hình thể, cấu tạo từ bốn nguyên tố, tiêu thụ thức ăn vật lý; thì ngay cả trong trường hợp đó, Nhận thức vẫn là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Này Poṭṭhapāda, cái tôi mang tính máy móc, có hình thể, cấu tạo từ bốn nguyên tố, tiêu thụ thức ăn vật lý đó vẫn tồn tại, trong khi những Nhận thức khác của con người này sinh ra, và những Nhận thức khác chấm dứt. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác.”

“Bạch Thế Tôn, con giả định cái tôi do tâm tạo (ý sinh / manomaya), có đầy đủ các bộ phận, không khiếm khuyết các giác quan.”

“Này Poṭṭhapāda, nếu cái tôi của ông do tâm tạo, có đầy đủ các bộ phận, không khiếm khuyết các giác quan; thì ngay cả trong trường hợp đó, Nhận thức vẫn là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Này Poṭṭhapāda, cái tôi do tâm tạo, có đầy đủ các bộ phận, không khiếm khuyết các giác quan đó vẫn tồn tại, trong khi những Nhận thức khác của con người này sinh ra, và những Nhận thức khác chấm dứt. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác.”

“Bạch Thế Tôn, con giả định cái tôi phi vật chất (vô sắc / arūpa), được tạo ra từ Nhận thức.”

“Này Poṭṭhapāda, nếu cái tôi của ông phi vật chất, được tạo ra từ Nhận thức; thì ngay cả trong trường hợp đó, Nhận thức vẫn là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác. Này Poṭṭhapāda, cái tôi phi vật chất, được tạo ra từ Nhận thức đó vẫn tồn tại, trong khi những Nhận thức khác của con người này sinh ra, và những Nhận thức khác chấm dứt. Bằng cách này, này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu rằng Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác.”

“Bạch Thế Tôn, con có thể biết được điều này: ‘Nhận thứccái tôi của con người’ hay ‘Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác’ không?”

“Điều này thật khó biết đối với ông, này Poṭṭhapāda, người có quan điểm khác, niềm tin khác, sở thích khác, sự thực hành khác, và bậc đạo sư khác: ‘Nhận thứccái tôi của con người’ hay ‘Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác’.”

“Bạch Thế Tôn, nếu điều đó thật khó biết đối với con, người có quan điểm khác, niềm tin khác, sở thích khác, sự thực hành khác, và bậc đạo sư khác: ‘Nhận thứccái tôi của con người’ hay ‘Nhận thức là một thứ, còn cái tôi là một thứ khác’; vậy bạch Thế Tôn, có phải ‘thế giới là vĩnh hằng, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’ không?”

“Này Poṭṭhapāda, điều này không xác định (vô ký / abyākata) bởi ta: ‘thế giới là vĩnh hằng, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’.”

“Vậy bạch Thế Tôn, có phải ‘thế giới là không vĩnh hằng, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’ không?”

“Điều này cũng không xác định bởi ta, này Poṭṭhapāda: ‘thế giới là không vĩnh hằng, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’.”

“Vậy bạch Thế Tôn, có phải ‘thế giới có giới hạn’… ‘thế giới không giới hạn’… ‘sinh mạng và cơ thể là một’… ‘sinh mạng và cơ thể là khác nhau’… ‘Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết’… ‘Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết’… ‘Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’… ‘Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’ không?”

“Điều này cũng không xác định bởi ta, này Poṭṭhapāda: ‘Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác đều sai lầm’.”

“Vì sao Thế Tôn lại không xác định điều đó?”

“Vì điều đó không mang lại lợi ích, không thuộc về Điều dạy, không phải là nền tảng của lối sống đạo hạnh, không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāga), không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự lắng dịu, không dẫn đến hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn. Do đó, điều đó không xác định bởi ta.”

“Vậy bạch Thế Tôn, điều gì đã được Thế Tôn xác định?”

“‘Đây là đau khổ’, này Poṭṭhapāda, đã được ta xác định. ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’, này Poṭṭhapāda, đã được ta xác định. ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’, này Poṭṭhapāda, đã được ta xác định. ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’, này Poṭṭhapāda, đã được ta xác định.”

“Vì sao Thế Tôn lại xác định điều đó?”

“Vì điều đó mang lại lợi ích, thuộc về Điều dạy, là nền tảng của lối sống đạo hạnh, dẫn đến sự nhàm chán, dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, dẫn đến sự chấm dứt, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu biết trực tiếp, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Do đó, điều đó đã được ta xác định.”

“Đúng là như vậy, Thế Tôn; đúng là như vậy, Thiện Thệ. Bây giờ, bạch Thế Tôn, ngài hãy làm những gì ngài cho là thích hợp.” Rồi Thế Tôn đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi.

Ngay sau khi Thế Tôn rời đi không lâu, các du sĩ ngoại đạo đó đã bao vây du sĩ Poṭṭhapāda từ mọi phía, dùng những lời lẽ châm chọc và chế giễu: “Đúng như vậy, tôn giả Poṭṭhapāda này, bất cứ điều gì sa-môn Gotama nói, ông ta đều tán thành: ‘Đúng là như vậy, Thế Tôn; đúng là như vậy, Thiện Thệ.’ Nhưng chúng tôi không thấy sa-môn Gotama giảng dạy bất kỳ Điều dạy nào xác định rõ ràng (nhất hướng / ekaṁsika) như: ‘thế giới là vĩnh hằng’, hay ‘thế giới là không vĩnh hằng’, hay ‘thế giới có giới hạn’, hay ‘thế giới không giới hạn’, hay ‘sinh mạng và cơ thể là một’, hay ‘sinh mạng và cơ thể là khác nhau’, hay ‘Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết’, hay ‘Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết’, hay ‘Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hay ‘Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’.”

Khi được nói vậy, du sĩ Poṭṭhapāda nói với các du sĩ ngoại đạo đó: “Thưa các tôn giả, tôi cũng không thấy sa-môn Gotama giảng dạy bất kỳ Điều dạy nào xác định rõ ràng như: ‘thế giới là vĩnh hằng’, hay ‘thế giới là không vĩnh hằng’… hay ‘Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’; nhưng sa-môn Gotama giảng dạy một con đường chân thực, đích thực, chính xác, dựa trên nền tảng của Điều dạy, theo quy luật của Điều dạy. Khi ngài giảng dạy một con đường chân thực, đích thực, chính xác, dựa trên nền tảng của Điều dạy, theo quy luật của Điều dạy, làm sao một người có trí như tôi lại không tán thành những lời khéo nói của sa-môn Gotama?”

2. Câu chuyện về Citta Hatthisāriputta và Poṭṭhapāda

Sau đó hai ba ngày, Citta Hatthisāriputta và du sĩ Poṭṭhapāda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, Citta Hatthisāriputta đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Poṭṭhapāda chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi một bên, du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, hôm đó ngay sau khi Thế Tôn rời đi không lâu, các du sĩ ngoại đạo đã bao vây con từ mọi phía, dùng những lời lẽ châm chọc và chế giễu: ‘Đúng như vậy, tôn giả Poṭṭhapāda này, bất cứ điều gì sa-môn Gotama nói, ông ta đều tán thành: “Đúng là như vậy, Thế Tôn; đúng là như vậy, Thiện Thệ.” Nhưng chúng tôi không thấy sa-môn Gotama giảng dạy bất kỳ Điều dạy nào xác định rõ ràng như: “thế giới là vĩnh hằng”, hay “thế giới là không vĩnh hằng”, hay “thế giới có giới hạn”, hay “thế giới không giới hạn”, hay “sinh mạng và cơ thể là một”, hay “sinh mạng và cơ thể là khác nhau”, hay “Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết”, hay “Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết”, hay “Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết”, hay “Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết”.’ Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với các du sĩ ngoại đạo đó: ‘Thưa các tôn giả, tôi cũng không thấy sa-môn Gotama giảng dạy bất kỳ Điều dạy nào xác định rõ ràng như: “thế giới là vĩnh hằng”, hay “thế giới là không vĩnh hằng”… hay “Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết”; nhưng sa-môn Gotama giảng dạy một con đường chân thực, đích thực, chính xác, dựa trên nền tảng của Điều dạy, theo quy luật của Điều dạy. Khi ngài giảng dạy một con đường chân thực, đích thực, chính xác, dựa trên nền tảng của Điều dạy, theo quy luật của Điều dạy, làm sao một người có trí như tôi lại không tán thành những lời khéo nói của sa-môn Gotama?’”

"Này Poṭṭhapāda, tất cả những du sĩ ngoại đạo đó đều mù lòa, không có mắt; chỉ có ông là người duy nhất có mắt trong số họ. Này Poṭṭhapāda, ta đã giảng dạy và chỉ ra những Điều dạy xác định rõ ràng; và ta cũng đã giảng dạy và chỉ ra những Điều dạy không xác định rõ ràng (phi nhất hướng / anekaṁsika).

Và này Poṭṭhapāda, những Điều dạy không xác định rõ ràng nào đã được ta giảng dạy và chỉ ra? ‘Thế giới là vĩnh hằng’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy không xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra; ‘thế giới là không vĩnh hằng’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy không xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra; ‘thế giới có giới hạn’, này Poṭṭhapāda… ‘thế giới không giới hạn’, này Poṭṭhapāda… ‘sinh mạng và cơ thể là một’, này Poṭṭhapāda… ‘sinh mạng và cơ thể là khác nhau’, này Poṭṭhapāda… ‘Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết’, này Poṭṭhapāda… ‘Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết’, này Poṭṭhapāda… ‘Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, này Poṭṭhapāda… ‘Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy không xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra.

Vì sao ta lại giảng dạy và chỉ ra những Điều dạy không xác định rõ ràng đó? Vì chúng không mang lại lợi ích, không thuộc về Điều dạy, không phải là nền tảng của lối sống đạo hạnh, không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự lắng dịu, không dẫn đến hiểu biết trực tiếp, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn. Do đó, những Điều dạy không xác định rõ ràng đó đã được ta giảng dạy và chỉ ra.

2.1. Những Điều dạy xác định rõ ràng

Và này Poṭṭhapāda, những Điều dạy xác định rõ ràng nào đã được ta giảng dạy và chỉ ra? ‘Đây là đau khổ’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra. ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra. ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra. ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’, này Poṭṭhapāda, là Điều dạy xác định rõ ràng đã được ta giảng dạy và chỉ ra.

Vì sao ta lại giảng dạy và chỉ ra những Điều dạy xác định rõ ràng đó? Vì chúng mang lại lợi ích, thuộc về Điều dạy, là nền tảng của lối sống đạo hạnh, dẫn đến sự nhàm chán, dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, dẫn đến sự chấm dứt, dẫn đến sự lắng dịu, dẫn đến hiểu biết trực tiếp, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Do đó, những Điều dạy xác định rõ ràng đó đã được ta giảng dạy và chỉ ra.

Này Poṭṭhapāda, có một số sa-môn, bà-la-môn có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: ‘Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết.’ Ta đi đến họ và nói: ‘Có thật là các tôn giả có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết” không?’ Nếu họ trả lời ta là ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có đang sống và biết rõ, thấy rõ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có từng nhận thức được một cái tôi hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm, một ngày, nửa đêm, hay nửa ngày không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có biết: “Đây là con đường, đây là phương pháp để chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có nghe thấy tiếng nói của những chư thiên đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc, nói rằng: “Thưa các ngài, hãy thực hành tốt, hãy thực hành ngay thẳng để chứng ngộ thế giới hoàn toàn hạnh phúc; vì chúng tôi cũng đã thực hành như vậy và đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó chẳng phải là vô căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó là vô căn cứ.”

"Ví như, này Poṭṭhapāda, một người đàn ông nói: ‘Tôi mong muốn và yêu cô gái đẹp nhất trong quốc gia này.’ Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, cô gái đẹp nhất quốc gia mà anh mong muốn và yêu đó, anh có biết cô ấy là người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời ‘Không’. Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, cô gái đẹp nhất quốc gia mà anh mong muốn và yêu đó, anh có biết cô ấy tên gì, họ gì, cao hay lùn hay trung bình, da đen hay da ngăm hay da sáng, sống ở làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời ‘Không’. Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, người mà anh không biết, không thấy, anh lại mong muốn và yêu sao?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời ‘Đúng vậy’.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là vô căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó là vô căn cứ.”

"Cũng giống như vậy, này Poṭṭhapāda, những sa-môn, bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: ‘Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết.’ Ta đi đến họ và nói: ‘Có thật là các tôn giả có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết” không?’ Nếu họ trả lời ta là ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có đang sống và biết rõ, thấy rõ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có từng nhận thức được một cái tôi hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm, một ngày, nửa đêm, hay nửa ngày không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có biết: “Đây là con đường, đây là phương pháp để chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có nghe thấy tiếng nói của những chư thiên đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc, nói rằng: “Thưa các ngài, hãy thực hành tốt, hãy thực hành ngay thẳng để chứng ngộ thế giới hoàn toàn hạnh phúc; vì chúng tôi cũng đã thực hành như vậy và đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó chẳng phải là vô căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó là vô căn cứ.”

"Ví như, này Poṭṭhapāda, một người đàn ông làm một cái thang ở ngã tư đường để leo lên một tòa lâu đài. Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, tòa lâu đài mà anh đang làm thang để leo lên đó, anh có biết nó nằm ở hướng đông, hướng nam, hướng tây, hay hướng bắc, nó cao, thấp, hay trung bình không?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời ‘Không’. Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, tòa lâu đài mà anh không biết, không thấy, anh lại làm thang để leo lên sao?’ Khi được hỏi vậy, anh ta trả lời ‘Đúng vậy’.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là vô căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó là vô căn cứ.”

"Cũng giống như vậy, này Poṭṭhapāda, những sa-môn, bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: ‘Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết.’ Ta đi đến họ và nói: ‘Có thật là các tôn giả có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Cái tôi hoàn toàn hạnh phúc và không có bệnh tật sau khi chết” không?’ Nếu họ trả lời ta là ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có đang sống và biết rõ, thấy rõ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có từng nhận thức được một cái tôi hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm, một ngày, nửa đêm, hay nửa ngày không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có biết đây là con đường, đây là phương pháp để chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ta nói với họ: ‘Nhưng các tôn giả có nghe thấy tiếng nói của những chư thiên đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc, nói rằng: “Thưa các ngài, hãy thực hành tốt, hãy thực hành ngay thẳng để chứng ngộ thế giới hoàn toàn hạnh phúc; vì chúng tôi cũng đã thực hành như vậy và đã tái sinh vào thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không?’ Khi được hỏi vậy, họ trả lời ‘Không’.

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó chẳng phải là vô căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của những sa-môn, bà-la-môn đó là vô căn cứ.”

2.2. Ba sự nhận lấy cái tôi

"Này Poṭṭhapāda, có ba sự nhận lấy cái tôi (ngã chấp / attapaṭilābha): sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo, sự nhận lấy cái tôi phi vật chất. Sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc là gì? Nó có hình thể, cấu tạo từ bốn nguyên tố, tiêu thụ thức ăn vật lý; đây là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc. Sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo là gì? Nó có hình thể, do tâm tạo, có đầy đủ các bộ phận, không khiếm khuyết các giác quan; đây là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo. Sự nhận lấy cái tôi phi vật chất là gì? Nó phi vật chất, được tạo ra từ Nhận thức; đây là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất.

Này Poṭṭhapāda, ta giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc: ‘để khi các ông thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn (pháp ô nhiễm / saṅkilesikā dhammā) sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch (pháp thanh tịnh / vodāniyā dhammā) sẽ tăng trưởng, và các ông sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’ Này Poṭṭhapāda, có thể ông nghĩ rằng: ‘những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, nhưng sự an trú đó sẽ là đau khổ.’ Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, và sẽ có sự hân hoan, hân hoan, sự lắng dịu, sự Tự Quan Sát, sự nhận biết rõ ràng, và một sự an trú hạnh phúc.

Này Poṭṭhapāda, ta giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo: ‘để khi các ông thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và các ông sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’ Này Poṭṭhapāda, có thể ông nghĩ rằng: ‘những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, nhưng sự an trú đó sẽ là đau khổ.’ Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, và sẽ có sự hân hoan, hân hoan, sự lắng dịu, sự Tự Quan Sát, sự nhận biết rõ ràng, và một sự an trú hạnh phúc.

Này Poṭṭhapāda, ta giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ sự nhận lấy cái tôi phi vật chất: ‘để khi các ông thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và các ông sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’ Này Poṭṭhapāda, có thể ông nghĩ rằng: ‘những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, nhưng sự an trú đó sẽ là đau khổ.’ Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại, và sẽ có sự hân hoan, hân hoan, sự lắng dịu, sự Tự Quan Sát, sự nhận biết rõ ràng, và một sự an trú hạnh phúc.

Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta: ‘Thưa các tôn giả, sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc mà các vị giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại là gì?’ Khi được hỏi vậy, chúng ta sẽ trả lời họ: ‘Thưa các tôn giả, chính sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc này là thứ mà chúng tôi giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’

Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta: ‘Thưa các tôn giả, sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo mà các vị giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại là gì?’ Khi được hỏi vậy, chúng ta sẽ trả lời họ: ‘Thưa các tôn giả, chính sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo này là thứ mà chúng tôi giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’

Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta: ‘Thưa các tôn giả, sự nhận lấy cái tôi phi vật chất mà các vị giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại là gì?’ Khi được hỏi vậy, chúng ta sẽ trả lời họ: ‘Thưa các tôn giả, chính sự nhận lấy cái tôi phi vật chất này là thứ mà chúng tôi giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói đó chẳng phải là có căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói đó là có căn cứ.”

"Ví như, này Poṭṭhapāda, một người đàn ông làm một cái thang để leo lên một tòa lâu đài ngay dưới chân tòa lâu đài đó. Người ta hỏi anh ta: ‘Này anh, tòa lâu đài mà anh đang làm thang để leo lên đó, anh có biết nó nằm ở hướng đông, hướng nam, hướng tây, hay hướng bắc, nó cao, thấp, hay trung bình không?’ Anh ta trả lời: ‘Thưa các ngài, chính tòa lâu đài này là nơi tôi đang làm thang để leo lên, ngay dưới chân tòa lâu đài đó.’

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là có căn cứ sao?"

“Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói của người đàn ông đó là có căn cứ.”

"Cũng giống như vậy, này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta: ‘Thưa các tôn giả, sự nhận lấy cái tôi mang tính máy mócsự nhận lấy cái tôi do tâm tạosự nhận lấy cái tôi phi vật chất mà các vị giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại là gì?’ Khi được hỏi vậy, chúng ta sẽ trả lời họ: ‘Thưa các tôn giả, chính sự nhận lấy cái tôi phi vật chất này là thứ mà chúng tôi giảng dạy Điều dạy để hoàn toàn từ bỏ, để khi thực hành theo, những điều gây nhiễm bẩn sẽ bị loại bỏ, những điều làm trong sạch sẽ tăng trưởng, và người ta sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú trong sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong hiện tại.’

Ông nghĩ sao, này Poṭṭhapāda, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói đó chẳng phải là có căn cứ sao?" “Chắc chắn là như vậy, bạch Thế Tôn, nếu sự việc là như vậy, thì lời nói đó là có căn cứ.”

Khi được nói vậy, Citta Hatthisāriputta thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, thì tại thời điểm đó sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo có trống rỗng không, sự nhận lấy cái tôi phi vật chất có trống rỗng không; và chỉ có sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc tại thời điểm đó là chân thực? Bạch Thế Tôn, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo, thì tại thời điểm đó sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc có trống rỗng không, sự nhận lấy cái tôi phi vật chất có trống rỗng không; và chỉ có sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo tại thời điểm đó là chân thực? Bạch Thế Tôn, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi phi vật chất, thì tại thời điểm đó sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc có trống rỗng không, sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo có trống rỗng không; và chỉ có sự nhận lấy cái tôi phi vật chất tại thời điểm đó là chân thực?”

"Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc. Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo. Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi phi vật chất, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất.

Này Citta, nếu người ta hỏi ông: ‘Ông đã tồn tại trong quá khứ, không phải là ông không tồn tại; ông sẽ tồn tại trong tương lai, không phải là ông sẽ không tồn tại; ông đang tồn tại trong hiện tại, không phải là ông không tồn tại.’ Khi được hỏi vậy, này Citta, ông sẽ trả lời thế nào?"

“Bạch Thế Tôn, nếu người ta hỏi con: ‘Ông đã tồn tại trong quá khứ, không phải là ông không tồn tại; ông sẽ tồn tại trong tương lai, không phải là ông sẽ không tồn tại; ông đang tồn tại trong hiện tại, không phải là ông không tồn tại.’ Khi được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: ‘Tôi đã tồn tại trong quá khứ, không phải là tôi không tồn tại; tôi sẽ tồn tại trong tương lai, không phải là tôi sẽ không tồn tại; tôi đang tồn tại trong hiện tại, không phải là tôi không tồn tại.’ Khi được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như thế.”

“Nhưng này Citta, nếu người ta hỏi ông: ‘Sự nhận lấy cái tôi trong quá khứ của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong tương lai là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng? Sự nhận lấy cái tôi trong tương lai của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng? Sự nhận lấy cái tôi trong hiện tại của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong tương lai là trống rỗng?’ Khi được hỏi vậy, này Citta, ông sẽ trả lời thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu người ta hỏi con: ‘Sự nhận lấy cái tôi trong quá khứ của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong tương lai là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng. Sự nhận lấy cái tôi trong tương lai của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng. Sự nhận lấy cái tôi trong hiện tại của ông, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong tương lai là trống rỗng.’ Khi được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: ‘Sự nhận lấy cái tôi trong quá khứ của tôi, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó tại thời điểm đó là chân thực, còn cái trong tương lai là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng. Sự nhận lấy cái tôi trong tương lai của tôi, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó tại thời điểm đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong hiện tại là trống rỗng. Sự nhận lấy cái tôi trong hiện tại của tôi, chỉ sự nhận lấy cái tôi đó là chân thực, còn cái trong quá khứ là trống rỗng, cái trong tương lai là trống rỗng.’ Khi được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như thế.”

"Cũng giống như vậy, này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất. Tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc. Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo… Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi phi vật chất, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất.

Ví như, này Citta, từ con bò có sữa, từ sữa có sữa đông, từ sữa đông có bơ, từ bơ có bơ trong, từ bơ trong có váng bơ. Tại thời điểm nó là sữa, nó không được gọi là sữa đông, không được gọi là bơ, không được gọi là bơ trong, không được gọi là váng bơ; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sữa. Tại thời điểm nó là sữa đông… là bơ… là bơ trong… là váng bơ, nó không được gọi là sữa, không được gọi là sữa đông, không được gọi là bơ, không được gọi là bơ trong; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là váng bơ. Cũng giống như vậy, này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc… Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo… Này Citta, tại thời điểm có sự nhận lấy cái tôi phi vật chất, thì tại thời điểm đó nó không được gọi là sự nhận lấy cái tôi mang tính máy móc, cũng không được gọi là sự nhận lấy cái tôi do tâm tạo; tại thời điểm đó nó chỉ được gọi là sự nhận lấy cái tôi phi vật chất. Này Citta, đây chỉ là tên gọi thông thường của đời (thế gian danh xưng / lokasamaññā), ngôn ngữ của đời (thế gian ngôn ngữ / lokaniruttiyo), cách nói của đời (thế gian danh ngôn / lokavohārā), sự quy ước của đời (thế gian thi thiết / lokapaññattiyo), mà Người Đến Như Vậy sử dụng nhưng không bám giữ (bất thủ / aparāmasan)."

Khi được nói vậy, du sĩ Poṭṭhapāda thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Ví như người ta dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Điều dạy và quy y Tăng chúng. Xin Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy y.”

2.3. Sự xuất gia của Citta Hatthisāriputta

Citta Hatthisāriputta thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Ví như người ta dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Điều dạy và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, mong con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, mong con được thọ giới cụ túc.”

Citta Hatthisāriputta đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, đã được thọ giới cụ túc. Không lâu sau khi thọ giới cụ túc, tôn giả Citta Hatthisāriputta sống một mình, ẩn cư, không phóng dật, nhiệt tâm, kiên quyết; và không bao lâu, mục đích vô thượng của lối sống đạo hạnh—mà vì đó các thiện nam tử đã chân chính xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình—đã được vị ấy tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ, đạt được và an trú ngay trong hiện tại. Vị ấy hiểu biết trực tiếp rằng: “Sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn sạch (đoạn tận / khīṇā), lối sống đạo hạnh đã hoàn thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Và tôn giả Citta Hatthisāriputta đã trở thành một trong những vị A-la-hán.

Kinh Poṭṭhapāda kết thúc, là bài kinh thứ chín.

9. KINH POTTHAPÀDA (BỐ-SÁ-BÀ-LÂU)

(Potthapàda Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Potthapada (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallika (Mạt-lê-viên) tên là Ekasàlaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sàvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sàvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallika tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Potthapàda”. Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallika, tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.

3. Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo Potthapàda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu.

4. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: “Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây”. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.

5. Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại đạo Potthapàda. Và du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn: “Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn”.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Potthapàda đã ngồi một bên: “Này Potthapàda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn đề gì đang nói mà bị gián đoạn?”

6. Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

“Này Tôn giả, tăng thượng tưởng diệt tận như thế nào?” Một vài vị trả lời: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng”. Như vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi. Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con người không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực. Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.

Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực, chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế Tôn: “Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây! Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự diệt tận các tăng thượng tưởng”. Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các tăng thượng tưởng như thế nào?

7. Này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Potthapàda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.

Và Thế Tôn nói:

− Sự học tập ấy là gì? Này Potthapàda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri… (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-43 trừ đoạn kết của mỗi đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Này Potthapàda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở đây này Potthapàda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-62)… như dùng ảo thuật để yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa… ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên… như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.

8. Này Potthapàda, và như vậy Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Potthapàda, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.

9. Này Potthapàda, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Potthapàda, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo hộ trì các căn… (như kinh Samôn quả, đoạn kinh số 65-74)…

10. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

11. Lại nữa, này Potthapàda, Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

12. “Lại nữa này Potthapàda, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

13. Lại nữa này Potthapàda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

14. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

15. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

16. Lại nữa này Potthapàda, với sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.

17. Lại nữa này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Potthapàda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.

18. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng này không?

− Bạch Thế Tôn, con không có nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.

− Này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên. Vậy ta hãy đừng có suy tưởng”. Và vị này không có suy tưởng. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này Potthapàda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.

− Như vậy là phải, này Potthapàda!

19. - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?

− Này Potthapàda, Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.

− Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh?

− Này Potthapàda, tùy theo vị ấy cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này Potthapàda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.

20. - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?

− Này Potthapàda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Potthapàda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.

21. - Bạch Thế Tôn, tưởng có phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?

− Này Potthapàda, ngươi hiểu tự ngã như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi dưỡng.

− Này Potthapàda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Potthapàda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.

22. - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn.

− Này Potthapàda, nếu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như vậy này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sự tự ngã ấy là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. − Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành.

23. - Này Potthapàda, nếu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Potthapàda, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sự tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.

24. - Bạch Thế Tôn, con có thể hiểu được chăng “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”?

− Này Potthapàda, thật khó cho ngươi biết được “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”, vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.

25. - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con biết được “tưởng là tự ngã của con người”, hay “tưởng khác, tự ngã khác” vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

26. - Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

27. - Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

− Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?

− Này Potthapàda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.

28. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?

− Này Potthapàda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.

29. - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?

− Này Potthapàda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.

30. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?

− Này Potthapàda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.

− Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.

Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

31. Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ ngoại đạo Potthapàda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Potthapàda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được Potthapàda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, “hay Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”.

Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Potthapàda nói với các du sĩ ngoại đạo kia:

− Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại không tán thành?

32. Hai ba ngày sau, Citta Hatthisàriputta và du sĩ ngoại đạo Potthapàda đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisàriputta đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Potthapàda, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Potthapàda này là như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Potthapàda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: “Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường con”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hưu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại có thể không tán thành?”

33. - Này Potthapàda, những vị du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có mắt độc nhất giữa chúng. Này Potthapàda, có những pháp được Ta truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Potthapàda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. Này Potthapàda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? “Thế giới là thường còn”, Này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là vô thường”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là hữu biên”, này Potthapàda… “Thế giới là vô biên”, này Potthapàda… “Sinh mạng và thân thể là một”, này Potthapàda… “Sinh mạng khác, thân thể khác”, này Potthapàda… “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda… “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda… “Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda … “Như Lai không có tồn tại và cũng không không có tồn tại sau khi chết”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.

Này Potthapàda, vì sao những pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? Này Potthapàda, những pháp này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Potthapàda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? “Ðây là khổ”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ tập”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ diệt”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách dứt khoát.

Này Potthapàda, vì sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? Này Potthapàda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát.

34. Này Potthapàda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?

Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. “Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hãy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy không trả lời không. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lý?

35. Như có một người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?” Ðược hỏi vậy vị ấy trả lời phải. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

36. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”, Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không? Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Potthapàda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

37. - Này Potthapàda, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Potthapàda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

38. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nữa ngày không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không”. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng thực hành! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Potthapàda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lý.

− Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lý.

39. - Này Potthapàda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Potthapàda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.

40. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các người nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

41. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ý sở thành ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quãng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.

42. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngã chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

43. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”

Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời “Này Hiền giả, chính thô phù ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

44. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi: “Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại?”

Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính ý sở thành ngã chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

45. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”.

Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?

46. Này Potthapàda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: “Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Ðông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung bình? Nếu người ấy trả lời: “Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này”. Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!

47. - Như vậy, này Potthapàda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp là gì?.. Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp là gì?.. Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?” Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.

− Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là nha vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!

48. Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngã chấp, phải chăng không có ý sở thành ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Thô phù ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi sở thành ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Ý sở thành ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có ý sở thành ngã chấp? Vô sắc ngã chấp khi ấy thật có tồn tại.

49. - Này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, nếu có người hỏi Người: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?” Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?” Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Tôi đã có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.

50. - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào? − Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Quá khứ ngã chấp mà tôi đã có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà tôi sẽ có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngã chấp mà tôi hiện có, ngã chấp ấy đối với là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.

51. - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp.

52. Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc… khi thành sanh tô… khi thành thục tô… khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.

53. Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngã chấp… Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp… Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.

54. Ðược nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

55. Và Citta Hatthisàriputta cũng bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

56. Citta Hatthisàriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Citta Hatthisàriputta ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Ðại đức Citta Hatthisàriputta hiểu biết như vậy.

Và đại đức Citta Hatthisàriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

-ooOoo-