Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 21. KINH SAKKAPAÑHA (ĐẾ THÍCH SỞ VẤN)

(Sakkapañhasutta)
Bản tóm tắt→

Như vầy tôi nghe — một thời Thế Tôn trú tại xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), phía đông thành Rājagaha (Vương Xá), tại một ngôi làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, phía bắc ngôi làng ấy, trên núi Vediyaka, trong hang Indasāla.

Lúc bấy giờ, Sakka (Đế Thích), vua của chư thiên, khởi lên mong muốn được đến yết kiến Thế Tôn. Rồi Sakka, vua của chư thiên, suy nghĩ: “Hiện nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú ở đâu?”

Sakka, vua của chư thiên, thấy Thế Tôn đang trú tại xứ Magadha, phía đông thành Rājagaha, tại ngôi làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, phía bắc ngôi làng ấy, trên núi Vediyaka, trong hang Indasāla. Thấy vậy, ngài gọi chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao Lợi) và nói: “Này các bạn, Thế Tôn đang trú tại xứ Magadha, phía đông thành Rājagaha, tại ngôi làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, phía bắc ngôi làng ấy, trên núi Vediyaka, trong hang Indasāla. Này các bạn, nếu chúng ta cùng đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thì sao?”

“Thưa vâng, thưa tôn giả,” chư thiên cõi Tāvatiṁsa đáp lời Sakka, vua của chư thiên.

Rồi Sakka, vua của chư thiên, gọi nhạc thần Pañcasikha (Ngũ Cung) và nói: “Này bạn Pañcasikha, Thế Tôn đang trú tại xứ Magadha, phía đông thành Rājagaha, tại ngôi làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, phía bắc ngôi làng ấy, trên núi Vediyaka, trong hang Indasāla. Này bạn Pañcasikha, nếu chúng ta cùng đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thì sao?”

“Thưa vâng, thưa tôn giả,” nhạc thần Pañcasikha đáp lời Sakka, vua của chư thiên, rồi cầm lấy cây đàn tỳ bà màu vàng Beluva, đi theo hầu Sakka, vua của chư thiên.

Rồi Sakka, vua của chư thiên, được chư thiên cõi Tāvatiṁsa bao quanh, có nhạc thần Pañcasikha đi trước dẫn đường — giống như một người lực lưỡng duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng y như thế — ngài biến mất khỏi cõi chư thiên Tāvatiṁsa và xuất hiện tại xứ Magadha, phía đông thành Rājagaha, tại ngôi làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, phía bắc ngôi làng ấy, trên núi Vediyaka.

Lúc bấy giờ, núi Vediyaka và ngôi làng Bà-la-môn Ambasaṇḍā rực sáng rạng rỡ nhờ oai lực của chư thiên. Thậm chí những người dân ở các làng xung quanh đã nói thế này: “Hôm nay núi Vediyaka như đang bốc cháy, hôm nay núi Vediyaka như đang thiêu đốt, hôm nay núi Vediyaka như đang rực lửa. Có chuyện gì mà hôm nay núi Vediyaka và ngôi làng Bà-la-môn Ambasaṇḍā lại rực sáng rạng rỡ đến thế?”; họ trở nên kinh hãi, lông tóc dựng ngược.

Rồi Sakka, vua của chư thiên, gọi nhạc thần Pañcasikha: “Này bạn Pañcasikha, những người như ta rất khó tiếp cận các bậc Như Lai khi các ngài đang tĩnh lặng, đang vui thích trong Thiền-na (Thiền / jhāna), đang rút lui vào sự tĩnh cư. Này bạn Pañcasikha, nếu bạn làm cho Thế Tôn hoan hỷ trước, sau khi bạn làm ngài hoan hỷ trước, chúng ta sẽ đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”

“Thưa vâng, thưa tôn giả,” nhạc thần Pañcasikha đáp lời Sakka, vua của chư thiên, cầm lấy cây đàn tỳ bà màu vàng Beluva, đi đến hang Indasāla; sau khi đến gần, ngài nghĩ: “Đứng ở khoảng cách này, Thế Tôn sẽ không quá xa cũng không quá gần ta, và ngài sẽ nghe được âm thanh của ta” — rồi ngài đứng sang một bên.

21. KINH ÐẾ-THÍCH SỞ VẤN

(Sakka-panha Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasàla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.

Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: “Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?” Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasala. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

− Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasala. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.

− Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài. - Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.

2. Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà:

− Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasàla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.

− Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.

Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.

Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.

3. Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng:

− Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.

Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.

4. Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:

− Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỷ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư. Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỷ, sau sự hoan hỷ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.

− Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.

Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasala. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: “Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe”.

1. Bài hát của Pañcasikha (Pañcasikhagītagāthā)

Đứng sang một bên, nhạc thần Pañcasikha gảy cây đàn tỳ bà màu vàng Beluva, và hát những vần thơ liên quan đến Phật, liên quan đến Pháp, liên quan đến Tăng, liên quan đến bậc A-la-hán, và liên quan đến tình yêu:

"Hỡi nàng Bhaddā Sūriyavacchasā, ta xin đảnh lễ cha nàng là Timbaru;
Nhờ ông mà nàng được sinh ra, hỡi người đẹp mang lại niềm vui cho ta.

Như làn gió mát cho người đang đổ mồ hôi, như nước uống cho người đang khát;
Nàng rạng rỡ thân thương với ta, như Giáo pháp đối với bậc A-la-hán.

Như phương thuốc cho người bệnh, như thức ăn cho người đang đói;
Hãy dập tắt ngọn lửa trong ta, hỡi người đẹp, như nước dập tắt lửa đang cháy.

Như con voi bị thiêu đốt bởi cái nóng mùa hè, trầm mình xuống hồ nước mát lạnh,
Đầy những phấn hoa sen; ta cũng muốn đắm chìm vào bầu ngực và vòng eo của nàng.

Như con voi vượt qua móc sắt, ta đã bị đánh bại bởi ngọn giáo đâm;
Ta không hiểu lý do vì sao, ta đã say đắm người có cặp đùi tuyệt mỹ.

Tâm ta đã bị trói buộc vào nàng, tâm ta đã hoàn toàn thay đổi;
Ta không thể quay trở lại, như con cá mắc vào lưỡi câu.

Hãy ôm ta, hỡi người đẹp có cặp đùi thon, hãy ôm ta, hỡi người có đôi mắt dịu dàng;
Hãy ôm chặt ta, hỡi người đẹp, đó là điều ta hằng khao khát.

mong muốn (dục / chanda) của ta trước đây thật nhỏ bé, hỡi người có mái tóc gợn sóng;
Nay nó đã sinh sôi nảy nở muôn phần, như phẩm vật cúng dường cho bậc A-la-hán.

Bất cứ công đức nào ta đã làm, đối với những bậc A-la-hán như thế;
Hỡi người đẹp toàn vẹn, mong sao quả báo ấy ta được cùng hưởng với nàng.

Bất cứ công đức nào ta đã làm, trên toàn cõi trái đất này;
Hỡi người đẹp toàn vẹn, mong sao quả báo ấy ta được cùng hưởng với nàng.

Như Thích tử trong Thiền-na, tâm hợp nhất, sáng suốt, có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sato);
Đang tìm kiếm sự bất tử, hỡi Sūriyavacchasā, ta cũng tìm kiếm nàng như thế.

Giống như bậc hiền triết hoan hỷ, khi đạt được sự giác ngộ tối thượng;
Ta cũng sẽ hoan hỷ như thế, hỡi người đẹp, khi được hòa quyện cùng nàng.

Nếu Sakka, chúa tể cõi Tāvatiṁsa, ban cho ta một điều ước;
Ta sẽ chọn nàng, hỡi người đẹp, mong muốn của ta mãnh liệt như thế.

Như cây Sāla vừa mới nở hoa, ta xin đảnh lễ cha nàng, người có trí tuệ;
Ta tôn kính ông, người đã sinh ra một người con gái như nàng."

Khi được nói như vậy, Thế Tôn nói với nhạc thần Pañcasikha: “Này Pañcasikha, âm thanh của tiếng đàn hòa quyện với âm thanh của tiếng hát, và âm thanh của tiếng hát hòa quyện với âm thanh của tiếng đàn; này Pañcasikha, tiếng đàn của bạn không lấn át tiếng hát, và tiếng hát không lấn át tiếng đàn. Này Pañcasikha, bạn đã sáng tác những vần thơ liên quan đến Phật, liên quan đến Pháp, liên quan đến Tăng, liên quan đến bậc A-la-hán, và liên quan đến tình yêu này từ khi nào?”

"Bạch Thế Tôn, có một thời Thế Tôn đang trú tại Uruvelā, trên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây bàng Ajapāla, khi ngài vừa mới giác ngộ. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con đang khao khát một người tên là Bhaddā Sūriyavacchasā, con gái của vua càn-thát-bà Timbaru. Nhưng bạch Thế Tôn, cô gái ấy lại yêu một người khác; cô ấy khao khát Sikhaṇḍī, con trai của người đánh xe Mātali. Vì bạch Thế Tôn, con không thể có được cô gái ấy bằng bất cứ cách nào, nên con đã cầm lấy cây đàn tỳ bà màu vàng Beluva, đi đến dinh thự của vua càn-thát-bà Timbaru; sau khi đến nơi, con gảy cây đàn tỳ bà màu vàng Beluva, và hát những vần thơ liên quan đến Phật, liên quan đến Pháp, liên quan đến Tăng, liên quan đến bậc A-la-hán, và liên quan đến tình yêu:

Hỡi nàng Bhaddā Sūriyavacchasā, ta xin đảnh lễ cha nàng là Timbaru;
Nhờ ông mà nàng được sinh ra, hỡi người đẹp mang lại niềm vui cho ta.

…(như trên)…

Như cây Sāla vừa mới nở hoa, ta xin đảnh lễ cha nàng, người có trí tuệ;
Ta tôn kính ông, người đã sinh ra một người con gái như nàng.

Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Bhaddā Sūriyavacchasā đã nói với con thế này: ‘Thưa ngài, tôi chưa từng được trực tiếp nhìn thấy Thế Tôn, nhưng tôi đã nghe về Thế Tôn khi tôi đang múa tại hội trường Sudhammā của chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Vì ngài đã ca ngợi Thế Tôn, nên hôm nay chúng ta hãy gặp gỡ nhau.’ Bạch Thế Tôn, đó là cuộc gặp gỡ duy nhất của con với cô gái ấy. Và từ đó đến nay không có thêm lần nào nữa."

Ðứng một bên, Pancasikha, con của Càn Thát Bà gảy cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:

5. Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!

6. Khi được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:

− Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?

− Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn an trú ở Uruvelà, bên bờ sông Neranjara (Ni-liên-thiền), dưới gốc cây Ajapàla-Nigrodha, khi mới thành Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, con yêu con gái của Timbaru, vua Càn Thát Bà, tên là Bhaddà với biệt hiệu Suriya Vaccasà. Nhưng bạch Thế Tôn, thiếu nữ lại yêu một người khác, tên là Sikhaddhi, con của Màtali người đánh xe. Bạch Thế Tôn, con không có phương tiện nào khác để chiếm được thiếu nữ. Con cầm đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva, đến tại trú xá của Timbaru, vua Càn Thát Bà. Khi đến xong, con gảy đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ này, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:

7. Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!

Bạch Thế Tôn, sau khi nghe nói vậy, Bhaddà Suriya Vaccasà nói với con như sau:

“Này Hiền giả, tôi chưa được thấy Thế Tôn tận mặt. Nhưng tôi có nghe đến Thế Tôn, khi tôi đến múa tại Thiện Pháp đường của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì Hiền giả đã tán dương Thế Tôn như vậy, vậy hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau”.

Bạch Thế Tôn, rồi con được gặp nàng, không phải hôm ấy, nhưng về sau.

2. Sakka đến gần (Sakkūpasaṅkama)

Rồi Sakka, vua của chư thiên, suy nghĩ: “Nhạc thần Pañcasikha đang trò chuyện thân thiện với Thế Tôn, và Thế Tôn cũng đang trò chuyện với Pañcasikha.”

Rồi Sakka, vua của chư thiên, gọi nhạc thần Pañcasikha: “Này bạn Pañcasikha, hãy thay ta chào Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các đại thần và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn’.”

“Thưa vâng, thưa tôn giả,” nhạc thần Pañcasikha đáp lời Sakka, vua của chư thiên, rồi chào Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các đại thần và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.”

“Này Pañcasikha, mong cho Sakka, vua của chư thiên, cùng các đại thần và tùy tùng được hạnh phúc; vì chư thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà và các chúng sinh khác đều mong muốn hạnh phúc.”

Đó là cách các bậc Như Lai chào hỏi những dạ xoa có oai lực lớn như vậy. Sau khi được chào hỏi, Sakka, vua của chư thiên, bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Chư thiên cõi Tāvatiṁsa cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Nhạc thần Pañcasikha cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên.

Lúc bấy giờ, hang Indasāla vốn gồ ghề bỗng trở nên bằng phẳng, vốn chật hẹp bỗng trở nên rộng rãi, bóng tối trong hang biến mất, và ánh sáng hiện ra nhờ oai lực của chư thiên.

Rồi Thế Tôn nói với Sakka, vua của chư thiên: “Thật kỳ diệu thay cho tôn giả Kosiya, thật phi thường thay cho tôn giả Kosiya, dù có rất nhiều công việc, rất nhiều bổn phận, mà ngài lại đến đây.”

"Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã mong muốn được đến yết kiến Thế Tôn; nhưng vì bận rộn với một số công việc và bổn phận của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, nên con không thể đến yết kiến Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có một thời Thế Tôn đang trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), trong ngôi nhà Salaḷa. Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, con đã đến Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn. Nhưng lúc đó, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang ngồi trong một trạng thái Định nào đó, và có một nữ tỳ của Đại vương Vessavaṇa tên là Bhūjatī đang đứng hầu Thế Tôn, chắp tay cung kính.

Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, con đã nói với Bhūjatī: ‘Này chị, hãy thay ta chào Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các đại thần và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn”’.

Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, Bhūjatī đã nói với con: ‘Thưa ngài, bây giờ không phải lúc để yết kiến Thế Tôn; Thế Tôn đang tĩnh cư’.

‘Vậy thì này chị, khi nào Thế Tôn xuất khỏi trạng thái Định ấy, hãy thay ta chào Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các đại thần và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn”’. Bạch Thế Tôn, người chị ấy có chào Thế Tôn giúp con không? Thế Tôn có nhớ lời của người chị ấy không?"

“Này vua của chư thiên, người chị ấy đã chào ta, ta nhớ lời của người chị ấy. Hơn nữa, ta đã xuất khỏi trạng thái Định ấy chính nhờ tiếng bánh xe ngựa của tôn giả.”

"Bạch Thế Tôn, những chư thiên nào sinh vào cõi Tāvatiṁsa trước chúng con, con đã từng nghe trực tiếp từ họ, đã từng ghi nhận trực tiếp từ họ rằng: ‘Khi các bậc Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, thì các cõi chư thiên được lấp đầy, và các cõi a-tu-la bị suy giảm’. Bạch Thế Tôn, con đã tận mắt chứng kiến điều này: từ khi Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, các cõi chư thiên được lấp đầy, và các cõi a-tu-la bị suy giảm.

8. Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ như sau:

“Pancasikha, con của Càn Thát Bà hoan hỷ đàm luận với Thế Tôn. Và Thế Tôn đối với Pancasikha cũng vậy”.

Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:

− Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủa Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.

− Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.

Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng theo lời dặn của Thiên chủ Sakka, đảnh lễ Thế Tôn và nói:

− Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ, đầu diện tiếp túc đảnh lễ Thế Tôn.

− Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.

Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasàla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.

9. Lúc bấy giờ, trong hang Indasàla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên. Rồi Thế Tôn nói với Thiên chủ Sakka:

− Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!

− Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salala. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn.

10. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:

“- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.

Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:

“- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.

“- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.

Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?

− Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.

2.1. Câu chuyện của Gopaka (Gopakavatthu)

Bạch Thế Tôn, ngay tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) này, có một người con gái dòng Thích-ca tên là Gopikā, có niềm tin vào Phật, có niềm tin vào Pháp, có niềm tin vào Tăng, và thực hành trọn vẹn các giới luật. Cô ấy đã từ bỏ tâm tính nữ, tu tập tâm tính nam, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, cô ấy được tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Cô ấy đã sinh vào cõi Tāvatiṁsa, trở thành con trai của chúng con. Ở đó, họ biết đến vị ấy như thế này: ‘Thiên tử Gopaka, thiên tử Gopaka’.

Bạch Thế Tôn, lại có ba vị tỳ kheo khác, sau khi sống đời sống phạm hạnh (brahmacariya) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, lại tái sinh vào cõi thấp kém của càn-thát-bà. Họ được cung cấp và tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), và họ đến phục vụ chúng con, làm người hầu hạ chúng con.

Khi họ đến phục vụ chúng con, làm người hầu hạ chúng con, thiên tử Gopaka đã quở trách họ: ‘Các ngài đã hướng mặt đi đâu mà không nghe Giáo pháp của Thế Tôn? Ta đây, dù từng là một người nữ, có niềm tin vào Phật, có niềm tin vào Pháp, có niềm tin vào Tăng, thực hành trọn vẹn các giới luật, đã từ bỏ tâm tính nữ, tu tập tâm tính nam, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, được tái sinh vào cõi lành, cõi trời, sinh vào cõi Tāvatiṁsa, trở thành con trai của Sakka, vua của chư thiên. Ở đây, họ biết đến ta như thế này: “Thiên tử Gopaka, thiên tử Gopaka”. Còn các ngài, sau khi sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, lại tái sinh vào cõi thấp kém của càn-thát-bà. Thật là một cảnh tượng đáng buồn mà chúng ta phải chứng kiến, khi thấy những người bạn đồng tu lại tái sinh vào cõi thấp kém của càn-thát-bà’.

Bạch Thế Tôn, khi bị thiên tử Gopaka quở trách như vậy, hai vị chư thiên ngay trong đời hiện tại đã lấy lại được sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) và tái sinh vào cõi Phạm chúng (Brahmapurohita), còn một vị chư thiên thì vẫn đắm chìm trong sự dễ chịu giác quan (dục / kāma).

'Ta từng là nữ cư sĩ của bậc Có Mắt (Đức Phật),
Tên của ta khi ấy là “Gopikā”;
Có niềm tin sâu sắc vào Phật và Pháp,
Ta đã phục vụ Tăng đoàn với tâm hoan hỷ.

Nhờ tính chất tốt đẹp của Giáo pháp Đức Phật,
Nay ta là con trai của Sakka, có oai lực lớn;
Có hào quang rực rỡ, sinh vào cõi trời thứ ba (Đao Lợi),
Ở đây họ biết đến ta là “Gopaka”.

Rồi ta nhìn thấy những vị tỳ kheo từng quen biết,
Nay đã tái sinh vào cõi càn-thát-bà, chịu sự sai khiến;
Họ từng là đệ tử của Gotama,
Những người mà ta từng biết khi còn là con người.

Chúng ta đã từng cúng dường thức ăn và nước uống,
Đảnh lễ dưới chân họ ngay tại nhà mình;
Các ngài đã hướng mặt đi đâu,
Mà lại tiếp nhận Giáo pháp của Đức Phật như thế?

Quy luật (Pháp / Dhamma) này phải được mỗi người tự mình nhận biết,
Đã được bậc Có Mắt khéo léo giảng dạy;
Ta đây từng phục vụ các ngài,
Từng lắng nghe những lời dạy tốt đẹp của các bậc Thánh.

Nay ta là con trai của Sakka, có oai lực lớn,
Có hào quang rực rỡ, sinh vào cõi trời thứ ba;
Còn các ngài từng phục vụ bậc Tối Thắng,
Từng sống đời sống phạm hạnh vô thượng.

Nay các ngài lại tái sinh vào cõi thấp kém,
Sự tái sinh này thật không tương xứng;
Thật là một cảnh tượng đáng buồn mà ta phải chứng kiến,
Khi thấy những người bạn đồng tu tái sinh vào cõi thấp kém.

Tái sinh vào cõi càn-thát-bà,
Các ngài phải đến hầu hạ chư thiên;
Hãy nhìn sự khác biệt này,
Của ta, người từng sống đời tại gia.

Từng là phụ nữ, nay ta là một nam thiên tử,
Được tận hưởng những sự dễ chịu giác quan cõi trời’;
Bị quở trách bởi người đệ tử của Gotama,
Họ đã sinh lòng chấn động khi gặp Gopaka.

‘Hãy nỗ lực, hãy cố gắng,
Đừng để chúng ta phải làm kẻ hầu người hạ’;
Hai người trong số họ đã nỗ lực,
Nhớ lại những lời dạy của Gotama.

Ngay tại đó, họ làm tâm mình cạn hết đắm nhiễm,
Thấy rõ sự nguy hiểm trong những sự dễ chịu giác quan;
Họ đã vượt qua những Xiềng Xích của sự dễ chịu giác quan,
Những trói buộc của Ác ma rất khó vượt qua.

Như con voi cắt đứt những sợi dây trói,
Họ đã vượt qua chư thiên cõi Tāvatiṁsa;
Cùng với chư thiên, vua Sakka và Pajāpati,
Tất cả đang ngồi trong hội trường Sudhammā.

Họ đã vượt qua những vị đang ngồi đó,
Những bậc anh hùng, cạn hết đắm nhiễm, đang làm sạch bụi bẩn;
Thấy họ, Vāsava (Sakka) sinh lòng chấn động,
Vị chúa tể chư thiên ở giữa hội chúng chư thiên.

‘Những vị này từng tái sinh vào cõi thấp kém,
Nay lại vượt qua chư thiên cõi Tāvatiṁsa’;
Nghe lời nói của người đang chấn động,
Gopaka đã nói với Vāsava ở giữa hội chúng.

'Đức Phật, bậc chúa tể loài người, đang ở thế giới nhân loại,
Ngài được biết đến là Thích-ca Mâu-ni, bậc chiến thắng sự dễ chịu giác quan;
Những vị này là đệ tử của ngài, từng đánh mất sự Tự Quan Sát,
Bị ta quở trách, họ đã lấy lại được sự Tự Quan Sát.

Trong ba vị ấy, một vị vẫn ở lại đây,
Tái sinh vào cõi càn-thát-bà, chịu sự sai khiến;
Còn hai vị kia đang đi trên con đường giác ngộ,
Dù ở cõi chư thiên, họ vẫn khinh chê vì tâm đã định tĩnh.

Sự tuyên thuyết Quy luật ở đây là như vậy,
Không một đệ tử nào ở đó còn nghi ngờ;
Đã vượt qua dòng nước lũ, đã cắt đứt sự nghi ngờ,
Chúng con xin đảnh lễ Đức Phật, bậc Chiến Thắng, chúa tể loài người.

Nhờ hiểu rõ Quy luật ở đây,
Họ đã đạt được sự thù thắng;
Tái sinh vào cõi Phạm chúng,
Hai vị ấy đã đi đến sự thù thắng.

Để đạt được Quy luật ấy,
Chúng con đã đến đây, thưa ngài;
Nếu được Thế Tôn cho phép,
Chúng con xin được hỏi ngài những câu hỏi’."

Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Dạ xoa này đã được thanh tịnh từ lâu, bất cứ câu hỏi nào vị ấy hỏi ta, tất cả đều sẽ liên quan đến lợi ích, không phải không liên quan đến lợi ích. Và những gì ta trả lời khi được hỏi, vị ấy sẽ nhanh chóng thấu hiểu.”

Rồi Thế Tôn nói với Sakka, vua của chư thiên bằng một bài kệ:

“Này Vāsava, hãy hỏi ta câu hỏi, bất cứ điều gì ông mong muốn trong tâm;
Đối với từng câu hỏi ấy, ta sẽ làm sáng tỏ cho ông.”

Kết thúc phần tụng thứ nhất.

11. Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: “Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong”. Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: “Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà. Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.

12. Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỷ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.
Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
Như voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajàpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vasava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vàsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
Nhờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.

13. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng”.

Rồi Thế Tôn nói bài kệ sau đây với Thiên chủ Sakka:

Vàsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.

Được Thế Tôn cho phép, Sakka, vua của chư thiên, đã hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên này:

“Thưa ngài, bởi Xiềng Xích (saṁyojana) nào mà chư thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà và các chúng sinh khác, mặc dù họ có ý nghĩ: ‘Mong sao chúng ta sống không hận thù, không bạo lực, không thù địch, không ác ý, không có kẻ thù’, nhưng họ vẫn sống trong hận thù, bạo lực, thù địch, ác ý và có kẻ thù?”

Sakka, vua của chư thiên, đã hỏi Thế Tôn câu hỏi như vậy. Được hỏi, Thế Tôn đã trả lời:

“Này Thiên chủ, chính bởi Xiềng Xíchđố kỵ và ích kỷ (issāmacchariya) mà chư thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà và các chúng sinh khác, mặc dù họ có ý nghĩ: ‘Mong sao chúng ta sống không hận thù, không bạo lực, không thù địch, không ác ý, không có kẻ thù’, nhưng họ vẫn sống trong hận thù, bạo lực, thù địch, ác ý và có kẻ thù.”

Thế Tôn đã trả lời câu hỏi của Sakka, vua của chư thiên như vậy. Sakka, vua của chư thiên, hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn: “Đúng là như vậy, bạch Thế Tôn; đúng là như vậy, bạch Thiện Thệ. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, con đã vượt qua sự nghi ngờ, đã xua tan sự phân vân.”

Sau khi hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:

“Thưa ngài, đố kỵ và ích kỷ lấy gì làm nền tảng, lấy gì làm sự hình thành (tập / samudaya), sinh ra từ đâu, bắt nguồn từ đâu; khi cái gì có mặt thì đố kỵ và ích kỷ có mặt; khi cái gì không có mặt thì đố kỵ và ích kỷ không có mặt?”

“Này Thiên chủ, đố kỵ và ích kỷ lấy sự phân biệt yêu-ghét (piyāppiya) làm nền tảng, lấy sự phân biệt yêu-ghét làm sự hình thành, sinh ra từ sự phân biệt yêu-ghét, bắt nguồn từ sự phân biệt yêu-ghét; khi sự phân biệt yêu-ghét có mặt thì đố kỵ và ích kỷ có mặt; khi sự phân biệt yêu-ghét không có mặt thì đố kỵ và ích kỷ không có mặt.”

“Thưa ngài, sự phân biệt yêu-ghét lấy gì làm nền tảng, lấy gì làm sự hình thành, sinh ra từ đâu, bắt nguồn từ đâu; khi cái gì có mặt thì sự phân biệt yêu-ghét có mặt; khi cái gì không có mặt thì sự phân biệt yêu-ghét không có mặt?”

“Này Thiên chủ, sự phân biệt yêu-ghét lấy mong muốn (dục / chanda) làm nền tảng, lấy mong muốn làm sự hình thành, sinh ra từ mong muốn, bắt nguồn từ mong muốn; khi mong muốn có mặt thì sự phân biệt yêu-ghét có mặt; khi mong muốn không có mặt thì sự phân biệt yêu-ghét không có mặt.”

“Thưa ngài, mong muốn lấy gì làm nền tảng, lấy gì làm sự hình thành, sinh ra từ đâu, bắt nguồn từ đâu; khi cái gì có mặt thì mong muốn có mặt; khi cái gì không có mặt thì mong muốn không có mặt?”

“Này Thiên chủ, mong muốn lấy suy nghĩ (tầm / vitakka) làm nền tảng, lấy suy nghĩ làm sự hình thành, sinh ra từ suy nghĩ, bắt nguồn từ suy nghĩ; khi suy nghĩ có mặt thì mong muốn có mặt; khi suy nghĩ không có mặt thì mong muốn không có mặt.”

“Thưa ngài, suy nghĩ lấy gì làm nền tảng, lấy gì làm sự hình thành, sinh ra từ đâu, bắt nguồn từ đâu; khi cái gì có mặt thì suy nghĩ có mặt; khi cái gì không có mặt thì suy nghĩ không có mặt?”

“Này Thiên chủ, suy nghĩ lấy sự phóng đại của nhận thức và khái niệm (papañcasaññāsaṅkhā) làm nền tảng, lấy sự phóng đại của nhận thức và khái niệm làm sự hình thành, sinh ra từ sự phóng đại của nhận thức và khái niệm, bắt nguồn từ sự phóng đại của nhận thức và khái niệm; khi sự phóng đại của nhận thức và khái niệm có mặt thì suy nghĩ có mặt; khi sự phóng đại của nhận thức và khái niệm không có mặt thì suy nghĩ không có mặt.”

“Thưa ngài, một vị tỳ kheo thực hành như thế nào để đi trên con đường dẫn đến sự chấm dứt (diệt / nirodha) sự phóng đại của nhận thức và khái niệm?”

Tụng Phẩm II

1. Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:

− Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?

Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:

− Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.

Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói: − Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.

2. Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:

− Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?

− Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.

− Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?

− Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.

− Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?

− Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.

− Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?

− Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tướng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tướng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt”.

3. Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tướng hý luận?

− Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.

2.2. Đề mục thiền về Cảm giác (Vedanākammaṭṭhāna)

"Này Thiên chủ, ta nói thanh thản (hỷ / somanassa) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói ưu phiền (ưu / domanassa) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói Tâm bình thản (xả / upekkhā) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi.

Này Thiên chủ, ta nói thanh thản có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào (duyên / paṭicca) đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại thanh thản: ‘Khi ta theo đuổi loại thanh thản này, những điều không thiện (pháp bất thiện / akusalā dhammā) tăng trưởng, những điều thiện (pháp thiện / kusalā dhammā) suy giảm’, thì loại thanh thản như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại thanh thản: ‘Khi ta theo đuổi loại thanh thản này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì loại thanh thản như vậy nên theo đuổi. Trong đó, loại nào có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), và loại nào không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), thì loại không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý là thù thắng hơn. Này Thiên chủ, ta nói thanh thản có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, ta nói ưu phiền có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại ưu phiền: ‘Khi ta theo đuổi loại ưu phiền này, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm’, thì loại ưu phiền như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại ưu phiền: ‘Khi ta theo đuổi loại ưu phiền này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì loại ưu phiền như vậy nên theo đuổi. Trong đó, loại nào có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, và loại nào không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, thì loại không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý là thù thắng hơn. Này Thiên chủ, ta nói ưu phiền có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, ta nói Tâm bình thản có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại Tâm bình thản: ‘Khi ta theo đuổi loại Tâm bình thản này, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm’, thì loại Tâm bình thản như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một loại Tâm bình thản: ‘Khi ta theo đuổi loại Tâm bình thản này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì loại Tâm bình thản như vậy nên theo đuổi. Trong đó, loại nào có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, và loại nào không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, thì loại không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý là thù thắng hơn. Này Thiên chủ, ta nói Tâm bình thản có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, một vị tỳ kheo thực hành như vậy là đang đi trên con đường dẫn đến sự chấm dứt sự phóng đại của nhận thức và khái niệm."

Thế Tôn đã trả lời câu hỏi của Sakka, vua của chư thiên như vậy. Sakka, vua của chư thiên, hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn: “Đúng là như vậy, bạch Thế Tôn; đúng là như vậy, bạch Thiện Thệ. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, con đã vượt qua sự nghi ngờ, đã xua tan sự phân vân.”

Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.

Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời ưu ấy nên thân cận. Ở đây, có ưu câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.

Này Thiên chủ, Ta nói ưu là hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.

Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời xả ấy nên thân cận. Ở đây, có xả câu hữu với tầm, câu hữu với tứ. có xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng xả có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.

Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như vậy, phải thành tựu con đường như vậy, mới thích hợp và hướng dẫn đến sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.

Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:

− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.

2.3. Sự bảo vệ bởi giới luật (Pātimokkhasaṁvara)

Sau khi hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:

“Thưa ngài, một vị tỳ kheo thực hành như thế nào để đạt được sự bảo vệ bởi giới luật (pātimokkhasaṁvara)?”

"Này Thiên chủ, ta nói hành vi của thân (kāyasamācāra) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói hành vi của lời nói (vacīsamācāra) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói sự tìm kiếm (pariyesanā) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi.

Này Thiên chủ, ta nói hành vi của thân có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một hành vi của thân: ‘Khi ta theo đuổi hành vi của thân này, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm’, thì hành vi của thân như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một hành vi của thân: ‘Khi ta theo đuổi hành vi của thân này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì hành vi của thân như vậy nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói hành vi của thân có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, ta nói hành vi của lời nói có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một hành vi của lời nói: ‘Khi ta theo đuổi hành vi của lời nói này, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm’, thì hành vi của lời nói như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một hành vi của lời nói: ‘Khi ta theo đuổi hành vi của lời nói này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì hành vi của lời nói như vậy nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói hành vi của lời nói có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, ta nói sự tìm kiếm có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều này đã được nói đến, nhưng dựa vào đâu mà điều này được nói đến? Ở đây, nếu người ta biết rõ về một sự tìm kiếm: ‘Khi ta theo đuổi sự tìm kiếm này, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm’, thì sự tìm kiếm như vậy không nên theo đuổi. Ở đây, nếu người ta biết rõ về một sự tìm kiếm: ‘Khi ta theo đuổi sự tìm kiếm này, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng’, thì sự tìm kiếm như vậy nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói sự tìm kiếm có hai loại: loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Điều đã được nói đến, chính là dựa vào điều này mà được nói đến.

Này Thiên chủ, một vị tỳ kheo thực hành như vậy là đạt được sự bảo vệ bởi giới luật."

Thế Tôn đã trả lời câu hỏi của Sakka, vua của chư thiên như vậy. Sakka, vua của chư thiên, hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn: “Đúng là như vậy, bạch Thế Tôn; đúng là như vậy, bạch Thiện Thệ. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, con đã vượt qua sự nghi ngờ, đã xua tan sự phân vân.”

4. Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:

− Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?

Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng tướng, thiện pháp suy giảm”, thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì thân hành ấy cần phải thân cận.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại cần thân cận, một loại cần tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với tầm cầu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì loại tầm cầu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận loại tầm cầu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì loại tầm cầu ấy nên thân cận.

Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.

Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như vậy, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như vậy!

Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:

− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.

2.4. Sự bảo vệ các giác quan (Indriyasaṁvara)

Sau khi hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:

“Thưa ngài, một vị tỳ kheo thực hành như thế nào để đạt được sự bảo vệ các giác quan (indriyasaṁvara)?”

“Này Thiên chủ, ta nói hình ảnh (sắc / rūpa) được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññāṇa) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói âm thanh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở tai có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói mùi hương được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mũi có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói vị được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở lưỡi có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói xúc chạm được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở thân có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi. Này Thiên chủ, ta nói mọi Điều (pháp / dhamma) được nhận biết bởi ‘Cái Biết’ ở trí não (ý thức / manoviññāṇa) có hai loại — loại nên theo đuổi và loại không nên theo đuổi.”

Khi được nói như vậy, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt như thế này. Bạch Thế Tôn, đối với loại hình ảnh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt nào mà khi theo đuổi, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm, thì loại hình ảnh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt như vậy không nên theo đuổi. Và bạch Thế Tôn, đối với loại hình ảnh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt nào mà khi theo đuổi, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng, thì loại hình ảnh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt như vậy nên theo đuổi. Và bạch Thế Tôn, đối với loại âm thanh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở tai khi theo đuổi… đối với loại mùi hương được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mũi khi theo đuổi… đối với loại vị được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở lưỡi khi theo đuổi… đối với loại xúc chạm được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở thân khi theo đuổi… đối với loại mọi Điều được nhận biết bởi ‘Cái Biết’ ở trí não nào mà khi theo đuổi, những điều không thiện tăng trưởng, những điều thiện suy giảm, thì loại mọi Điều được nhận biết bởi ‘Cái Biết’ ở trí não như vậy không nên theo đuổi. Và bạch Thế Tôn, đối với loại mọi Điều được nhận biết bởi ‘Cái Biết’ ở trí não nào mà khi theo đuổi, những điều không thiện suy giảm, những điều thiện tăng trưởng, thì loại mọi Điều được nhận biết bởi ‘Cái Biết’ ở trí não như vậy nên theo đuổi.

Bạch Thế Tôn, nhờ hiểu được ý nghĩa chi tiết của những gì Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt như thế này, con đã vượt qua sự nghi ngờ, đã xua tan sự phân vân sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi."

Sau khi hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:

“Thưa ngài, có phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều cùng một quan điểm, cùng một đạo đức, cùng một mong muốn, cùng một sự bám chấp (ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā) không?”

“Này Thiên chủ, không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều cùng một quan điểm, cùng một đạo đức, cùng một mong muốn, cùng một sự bám chấp.”

“Thưa ngài, tại sao không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều cùng một quan điểm, cùng một đạo đức, cùng một mong muốn, cùng một sự bám chấp?”

“Này Thiên chủ, thế giới này có nhiều yếu tố, đa dạng các yếu tố (anekadhātu nānādhātu). Trong thế giới có nhiều yếu tố, đa dạng các yếu tố ấy, chúng sinh bám víu vào yếu tố nào, họ sẽ kiên quyết nắm giữ và bám chặt lấy yếu tố đó mà tuyên bố: ‘Chỉ có điều này là sự thật, mọi thứ khác đều là sai lầm’. Do đó, không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều cùng một quan điểm, cùng một đạo đức, cùng một mong muốn, cùng một sự bám chấp.”

“Thưa ngài, có phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an toàn tuyệt đối, đạt đến đời sống phạm hạnh trọn vẹn, đạt đến điểm kết thúc tuyệt đối (accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā) không?”

“Này Thiên chủ, không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an toàn tuyệt đối, đạt đến đời sống phạm hạnh trọn vẹn, đạt đến điểm kết thúc tuyệt đối.”

“Thưa ngài, tại sao không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an toàn tuyệt đối, đạt đến đời sống phạm hạnh trọn vẹn, đạt đến điểm kết thúc tuyệt đối?”

“Này Thiên chủ, những vị tỳ kheo nào giải thoát nhờ sự cạn kiệt thèm khát (taṇhāsaṅkhayavimuttā), những vị ấy mới đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an toàn tuyệt đối, đạt đến đời sống phạm hạnh trọn vẹn, đạt đến điểm kết thúc tuyệt đối. Do đó, không phải tất cả các sa-môn, bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an toàn tuyệt đối, đạt đến đời sống phạm hạnh trọn vẹn, đạt đến điểm kết thúc tuyệt đối.”

Thế Tôn đã trả lời câu hỏi của Sakka, vua của chư thiên như vậy. Sakka, vua của chư thiên, hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn: “Đúng là như vậy, bạch Thế Tôn; đúng là như vậy, bạch Thiện Thệ. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, con đã vượt qua sự nghi ngờ, đã xua tan sự phân vân.”

Sau khi hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, sự xao động (ejā) là căn bệnh, sự xao động là khối u, sự xao động là mũi tên, sự xao động lôi kéo con người đi tái sinh vào hết cõi tồn tại (hữu / bhava) này đến cõi tồn tại khác. Vì vậy, con người phải chịu cảnh thăng trầm. Bạch Thế Tôn, những câu hỏi mà con không thể tìm được cơ hội để hỏi các sa-môn, bà-la-môn khác bên ngoài, nay đã được Thế Tôn giải đáp. Và mũi tên nghi ngờ, phân vân đã ghim sâu trong con từ lâu, nay đã được Thế Tôn nhổ bỏ.”

“Này Thiên chủ, ông có nhớ đã từng hỏi những câu hỏi này với các sa-môn, bà-la-môn khác không?”

“Bạch Thế Tôn, con nhớ đã từng hỏi những câu hỏi này với các sa-môn, bà-la-môn khác.”

“Này Thiên chủ, họ đã trả lời ông như thế nào? Nếu không có gì trở ngại, hãy nói đi.”

“Bạch Thế Tôn, không có gì trở ngại khi Thế Tôn hay một người giống như Thế Tôn đang ngồi đây.”

“Vậy thì này Thiên chủ, hãy nói đi.”

“Bạch Thế Tôn, những sa-môn, bà-la-môn nào mà con nghĩ là đang sống ẩn cư trong rừng sâu, con đã đến gặp họ và hỏi những câu hỏi này. Khi bị con hỏi, họ không thể trả lời được, và vì không thể trả lời, họ lại hỏi ngược lại con: ‘Tôn giả tên là gì?’. Khi bị họ hỏi, con trả lời: ‘Thưa ngài, tôi là Sakka, vua của chư thiên’. Họ lại hỏi con tiếp: ‘Này vua của chư thiên, ngài đã làm hành động gì để đạt được vị trí này?’. Con liền giảng dạy cho họ Giáo pháp theo những gì con đã nghe, đã học. Chỉ với bấy nhiêu đó, họ đã hoan hỷ: ‘Chúng ta đã được gặp Sakka, vua của chư thiên, và ngài đã trả lời những gì chúng ta hỏi’. Họ hoàn toàn trở thành đệ tử của con, chứ con không phải là đệ tử của họ. Nhưng bạch Thế Tôn, con là đệ tử của Thế Tôn, đã nhập lưu (sotāpanna), không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ.”

5. Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp:

− Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?

− Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt… hương do mũi phân biệt… vị do lưỡi phân biệt… xúc do thân phân biệt… Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.

Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt… loại hương nào do mũi phân biệt… loại vị nào do lưỡi phân biệt… loại xúc nào do thân phân biệt… loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt, được con hiểu một cách rộng rãi. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con tiêu tan, do dự của con diệt tận.

6. Như vậy sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn, Thiên chủ Sakka lại hỏi câu hỏi tiếp:

− Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng? − Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!

− Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?

− Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: “Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê”. Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.

− Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?

− Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.

Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?

− Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.

Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:

− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.

7. Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp:

− Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.

− Này Thiên chủ, Ngươi có biết những câu hỏi ấy cũng được Ngươi hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác không?

− Bạch Thế Tôn, con được biết những câu hỏi ấy cũng được con hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác.

− Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.

− Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.

− Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi. − Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: “Tôn giả tên gì?” Ðược hỏi vậy con trả lời: “Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka.” Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: “Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?” Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỷ và nói: “Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi.” Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.

2.5. Lời tuyên bố về sự đạt được niềm vui (Somanassapaṭilābhakathā)

“Này Thiên chủ, ông có nhớ trước đây đã từng đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như thế này không?”

“Bạch Thế Tôn, con nhớ trước đây đã từng đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như thế này.”

“Này Thiên chủ, ông nhớ đã đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như thế này trước đây trong hoàn cảnh nào?”

“Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến giữa chư thiên và a-tu-la đã nổ ra. Trong trận chiến đó, bạch Thế Tôn, chư thiên đã chiến thắng, a-tu-la đã thất bại. Bạch Thế Tôn, sau khi chiến thắng trận chiến đó, với tư cách là người chiến thắng, con đã nghĩ: ‘Bây giờ, những tinh hoa của chư thiên và những tinh hoa của a-tu-la, chư thiên sẽ được tận hưởng cả hai’. Nhưng bạch Thế Tôn, sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản đó của con vẫn đi kèm với bạo lực, đi kèm với vũ khí, không dẫn đến sự chán ghét, không dẫn đến sự phai nhạt, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự tĩnh lặng, không dẫn đến sự hiểu biết trực tiếp, không dẫn đến sự giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn. Còn sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản của con hôm nay sau khi nghe Giáo pháp của Thế Tôn, nó không đi kèm với bạo lực, không đi kèm với vũ khí, hoàn toàn dẫn đến sự chán ghét, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn.”

“Này Thiên chủ, ông nhìn thấy những lợi ích gì mà lại tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy?”

"Bạch Thế Tôn, con nhìn thấy sáu lợi ích nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Ngay tại đây, khi đang tồn tại, với tư cách là một vị chư thiên;
Ta đã nhận được một mạng sống mới, thưa ngài, hãy biết như vậy.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ nhất con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Khi từ bỏ thân xác chư thiên, bỏ lại tuổi thọ phi nhân loại;
Không còn u mê, ta sẽ đi vào bào thai, nơi tâm ta vui thích.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ hai con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Ta sẽ sống với trí tuệ không u mê, vui thích trong Giáo pháp;
Ta sẽ sống đúng đắn, có sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno) và sự Tự Quan Sát.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ ba con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Nếu ta sống đúng đắn, và đạt được sự giác ngộ;
Ta sẽ sống như một người đã thấu hiểu, và đó sẽ là điểm kết thúc.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ tư con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Khi từ bỏ thân xác nhân loại, bỏ lại tuổi thọ con người;
Ta sẽ lại trở thành chư thiên, tối thắng trong cõi trời.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ năm con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Những chư thiên thù thắng hơn, cõi Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha) đầy vinh quang;
Trong kiếp sống cuối cùng, đó sẽ là nơi cư trú của ta.

Bạch Thế Tôn, đây là lợi ích thứ sáu con nhìn thấy nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Bạch Thế Tôn, con nhìn thấy sáu lợi ích này nên mới tuyên bố về sự đạt được niềm hân hoan, đạt được sự thanh thản như vậy.

Với những ý định chưa trọn vẹn, đầy nghi ngờ và phân vân;
Ta đã lang thang trong một thời gian dài, tìm kiếm bậc Như Lai.

Những sa-môn nào ta nghĩ, đang sống ẩn cư tĩnh lặng;
Nghĩ rằng họ là những bậc giác ngộ, ta đã đến để hầu hạ họ.

‘Làm thế nào để đạt được thành tựu, làm thế nào dẫn đến thất bại’;
Khi bị hỏi như vậy, họ không thể trả lời, về con đường và phương pháp thực hành.

Khi họ nhận ra ta, Sakka vua chư thiên đã đến;
Họ lại hỏi chính ta, ‘Ngài đã làm gì để đạt được điều này’.

Ta đã giảng dạy cho họ Giáo pháp, theo những gì ta đã nghe;
Nhờ đó họ hoan hỷ, ‘Chúng ta đã được gặp Vāsava’.

Nhưng khi ta nhìn thấy Đức Phật, bậc vượt qua mọi nghi ngờ;
Hôm nay ta đã hết sợ hãi, khi được hầu hạ bậc Giác Ngộ.

Bậc nhổ bỏ mũi tên sự thèm khát, Đức Phật không ai sánh bằng;
Ta xin đảnh lễ bậc Đại Hùng, Đức Phật, người bà con của mặt trời.

Sự tôn kính mà chúng con dành cho Phạm thiên, cùng với chư thiên, thưa ngài;
Hôm nay chúng con xin dành cho ngài, chúng con tự mình đảnh lễ ngài.

Ngài chính là bậc Giác Ngộ, ngài là bậc Đạo Sư vô thượng;
Trong thế giới cùng với chư thiên này, không ai có thể sánh bằng ngài."

Rồi Sakka, vua của chư thiên, gọi nhạc thần Pañcasikha: “Này bạn Pañcasikha, bạn đã giúp ta rất nhiều khi làm cho Thế Tôn hoan hỷ trước. Sau khi bạn làm ngài hoan hỷ trước, chúng ta đã đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Ta sẽ đặt bạn vào vị trí của cha bạn, bạn sẽ trở thành vua càn-thát-bà, và ta ban cho bạn nàng Bhaddā Sūriyavacchasā, vì đó là người bạn hằng khao khát.”

Rồi Sakka, vua của chư thiên, dùng tay chạm xuống đất và thốt lên lời cảm hứng ba lần:

"Nam-mô Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Nam-mô Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Nam-mô Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác."

Và trong khi lời giải đáp này đang được tuyên thuyết, Sakka, vua của chư thiên, đã khởi lên con mắt Quy luật (Pháp nhãn / dhammacakkhu) không bụi bẩn, không tỳ vết: “Bất cứ điều gì có tính chất sự hình thành (tập khởi / samudayadhamma), tất cả điều đó đều có tính chất chịu sự cạn khô (diệt / nirodhadhamma).” Tám mươi ngàn chư thiên khác cũng đạt được như vậy.

Những câu hỏi mà Sakka, vua của chư thiên, yêu cầu được hỏi, đã được Thế Tôn giải đáp. Do đó, lời giải đáp này có tên gọi là “Kinh Đế Thích Sở Vấn” (Sakkapañha).

Kinh Đế Thích Sở Vấn thứ tám kết thúc.

− Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?

− Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.

− Này Thiên chủ, như thế nào, Ngươi biết được trước kia không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?

− Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xẩy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: “Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm.” Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến toàn yêm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.

8. - Này Thiên chủ, khi Ngươi cam thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?

− Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:

Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.

Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.

Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.

Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.

Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỷ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.

Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.

Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.

Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.

Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.

Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.

Thù thắng hơn chư Thiên,
Akanittha danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.

Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.

9.

Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỷ, họ bèn nói:
“Vàsava làm họ thấy!”
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Ðấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Ðại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Ðạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!

10. Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn thát bà:

− Này Khanh Pancasikha, Ngươi đã giúp ta nhiều việc. Trước nhờ Ngươi làm Thế Tôn bằng lòng, sau khi Ngươi làm cho bằng lòng, ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ta sẽ đóng vai trò thân phụ cho Ngươi, Ngươi sẽ là Vua loài Càn thát bà. Ta sẽ cho Ngươi Bhaddà Suriya Vaccasà, người mà ngươi ao ước.

Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:

Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!

Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: “Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.” Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).

-ooOoo-