Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 23. KINH Pāyāsi

(Pāyāsisutta)
Bản tóm tắt→

Tôi nghe như vầy: Một thời, Tôn giả Kumārakassapa đang du hành trong dân chúng Kosala cùng với một hội chúng tỳ kheo lớn khoảng năm trăm vị, và đã đến một thị trấn của người Kosala tên là Setabyā. Tại đó, Tôn giả Kumārakassapa trú ở Setabyā, tại khu rừng Siṁsapā ở phía bắc Setabyā.

Vào lúc bấy giờ, vương tử Pāyāsi đang cai quản Setabyā, một nơi đông đúc dân cư, nhiều cỏ cây, củi, nước và lúa gạo, là một thái ấp hoàng gia do vua Pasenadi nước Kosala ban tặng như một phần thưởng hoàng gia, một ân tứ thiêng liêng.

1. Câu chuyện về vương tử Pāyāsi (Pāyāsirājaññavatthu)

Vào lúc bấy giờ, vương tử Pāyāsi khởi lên một quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi) tồi tệ như sau: “Như thế này: không có thế giới khác (tha thế / paro loko), không có chúng sinh sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika), không có kết quả (quả / phala) hay sự chín muồi (dị thục / vipāka) của những hành động (nghiệp / kamma) tốt và xấu.”

Các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā nghe nói: “Này các bạn, sa-môn Kumārakassapa, đệ tử của sa-môn Gotama, đang du hành trong dân chúng Kosala cùng với một hội chúng tỳ kheo lớn khoảng năm trăm vị, đã đến Setabyā và đang trú tại khu rừng Siṁsapā ở phía bắc Setabyā. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về Tôn giả Kumārakassapa: ‘Ngài là người thông thái, tài giỏi, sáng suốt, nghe nhiều, nói năng lưu loát, có tài biện luận tốt, là bậc trưởng thượng và là một vị A-la-hán. Thật là tốt lành khi được chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy.’” Thế rồi, các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā rời khỏi Setabyā, tụ tập thành từng nhóm, từng đoàn, hướng về phía bắc đi đến khu rừng Siṁsapā.

Vào lúc bấy giờ, vương tử Pāyāsi đang nghỉ trưa trên tầng gác của lâu đài. Vương tử Pāyāsi nhìn thấy các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā rời khỏi Setabyā, tụ tập thành từng nhóm, từng đoàn, hướng về phía bắc đi đến khu rừng Siṁsapā. Thấy vậy, ông gọi người quản gia (khattā): “Này quản gia, có chuyện gì mà các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā lại rời khỏi Setabyā, tụ tập thành từng nhóm, từng đoàn, hướng về phía bắc đi đến khu rừng Siṁsapā vậy?”

“Thưa ngài, có sa-môn Kumārakassapa, đệ tử của sa-môn Gotama, đang du hành trong dân chúng Kosala cùng với một hội chúng tỳ kheo lớn khoảng năm trăm vị, đã đến Setabyā và đang trú tại khu rừng Siṁsapā ở phía bắc Setabyā. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây đã vang lên về Tôn giả Kumārakassapa: ‘Ngài là người thông thái, tài giỏi, sáng suốt, nghe nhiều, nói năng lưu loát, có tài biện luận tốt, là bậc trưởng thượng và là một vị A-la-hán.’ Họ đang đi đến để chiêm ngưỡng Tôn giả Kumārakassapa.”

“Nếu vậy, này quản gia, hãy đi đến chỗ các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā; sau khi đến, hãy nói với họ như sau: ‘Thưa các bạn, vương tử Pāyāsi nói thế này: Xin các bạn hãy chờ một chút, vương tử Pāyāsi cũng sẽ đi đến để chiêm ngưỡng sa-môn Kumārakassapa.’ Đừng để sa-môn Kumārakassapa thuyết phục các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā vốn ngu ngốc, thiếu hiểu biết rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’ Bởi vì, này quản gia, không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.”

“Vâng, thưa ngài,” người quản gia đáp lời vương tử Pāyāsi, rồi đi đến chỗ các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā; sau khi đến, người ấy nói với họ: “Thưa các bạn, vương tử Pāyāsi nói thế này: Xin các bạn hãy chờ một chút, vương tử Pāyāsi cũng sẽ đi đến để chiêm ngưỡng sa-môn Kumārakassapa.”

Sau đó, vương tử Pāyāsi cùng với các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā đi đến khu rừng Siṁsapā, nơi Tôn giả Kumārakassapa đang ở; sau khi đến, ông chào hỏi Tôn giả Kumārakassapa, trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, rồi ngồi xuống một bên. Các bà-la-môn và gia chủ ở Setabyā cũng vậy: một số đảnh lễ Tôn giả Kumārakassapa rồi ngồi xuống một bên; một số trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự với Tôn giả Kumārakassapa rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay vái chào Tôn giả Kumārakassapa rồi ngồi xuống một bên; một số xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.

23. KINH TỆ-TÚC

(Pàyàsi Sutta)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời tôn giả Kumàra Kassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) đang du hành trong nước Kosala (Câu-tát-la) cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đi đến một đô thị của Kosala tên là Setavyà (Tư-ba-ê). Rồi tôn giả Kumàra Kassapa trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà (Thi-xá-bà). Lúc bấy giờ, vua Pàyàsi (Tệ-túc) cư trú tại Setavyà, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp.

2. Lúc bấy giờ, vua Pàyàsi khởi lên ác, tà kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”. Các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà được nghe: “Sa môn Kumàra Kassapa, đệ tử Sa môn Gotama đang du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Setavyà, trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về tôn giả Kumàra Kassapa được khởi lên: “Tôn giả là bậc học rộng, tài cao, diệu trí, đa văn, lời nói thấu tâm, thiện xảo biện tài, bậc trưởng lão và bậc A la hán như vậy.” Rồi các vị Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm, đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà.

3. Lúc bầy giờ, vua Pàyàsi đi lên lầu thượng để nghỉ trưa. Vua Pàyàsi thấy các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà đi ra khỏi thành Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà. Thấy vậy vua cho gọi quan hộ thành và hỏi:

− Này Khanh, vì sao các Bà-la-môn và Gia chủ ở Setavyà đi ra khỏi thành Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm, đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà như vậy?

− Có Sa môn Kumàra Kassapa, đệ tử Sa môn Gotama đang du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Setavyà, trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về tôn giả Kumàra Kassapa được khởi lên: “Tôn giả là bậc học rộng, tài cao, diệu trí, đa văn, lời nói thấu tâm, thiện xảo, biện tài” và các vị ấy đi đến yết kiến tôn giả Kumàra Kassapa.

− Này Khanh, hãy đi đến các Bà-la-môn và Gia chủ ấy và nói với họ như sau: “Vua Pàyàsi nói các Hiền giả hãy đợi. Vua Pàyàsi cũng sẽ đến yết kiến Sa môn Kumàra Kassapa”. Sa môn Kumàra Kassapa có thể cảm hóa các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà ngu muội và kém khả năng theo quan điểm: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Này Khanh, sự thật không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.

− Xin vâng, thưa Tôn chủ!

Vị quan hộ thành vâng lời vua Pàyàsi, đi đến các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà và nói:

− Chư Hiền giả hãy chờ đợi, vua Pàyàsi sẽ đến yết kiến Sa môn Kumàra Kassapa.

4. Rồi Vua Pàyàsi được các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà hộ tống cùng đi đến rừng Simsapà chỗ trú của tôn giả Kumàra Kassapa. Sau khi đến, vua bèn nói lời thân ái, chào đón, chúc tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà, có người đảnh lễ tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người nói lời thân ái, chào đón chúc tụng tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người chấp tay vái chào tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người xưng tên họ rồi ngồi xuống một bên. Có người yên lặng ngồi xuống một bên.

2. Thuyết Hư vô (Natthikavāda)

Ngồi một bên, vương tử Pāyāsi nói với Tôn giả Kumārakassapa: “Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có quan điểm và chủ trương như sau: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Này vương tử, tôi chưa từng thấy hay nghe ai có quan điểm và chủ trương như vậy. Làm sao một người có thể nói rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu’?

2.1. Ví dụ về mặt trăng và mặt trời (Candimasūriyaupamā)

Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ hỏi lại ngài về điều này, ngài thấy thế nào thì hãy trả lời thế ấy. Ngài nghĩ thế nào, này vương tử, mặt trăng và mặt trời này là ở thế giới này hay ở thế giới khác, chúng là chư thiên hay con người?"

“Thưa Tôn giả Kassapa, mặt trăng và mặt trời này là ở thế giới khác, không phải ở thế giới này; chúng là chư thiên, không phải con người.”

“Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào, có lý do nào khiến ngài nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu’ không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp, có lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây tôi có những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống là những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có tâm ác ý, có quan điểm sai. Sau một thời gian, họ bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Khi tôi biết: ‘Những người này sẽ không qua khỏi căn bệnh này’, tôi đi đến chỗ họ và nói: ‘Thưa các bạn, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm và chủ trương như sau: “Những ai sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có tâm ác ý, có quan điểm sai, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục.” Các bạn là những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có tâm ác ý, có quan điểm sai. Nếu lời của các vị sa-môn, bà-la-môn ấy là sự thật, thì các bạn sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Thưa các bạn, nếu sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, các bạn tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục, thì hãy đến báo cho tôi biết rằng: “Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.” Các bạn là những người đáng tin cậy, đáng tín nhiệm của tôi; những gì các bạn thấy cũng giống như chính tôi tự thấy vậy.’ Họ đồng ý với tôi: ‘Được’, nhưng họ không hề đến báo cho tôi, cũng không cử sứ giả đến. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

5. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Pàyàsi thưa với tôn giả Kumàra Kassapa:

− Tôn giả Kassapa, tôi có chủ thuyết và tri kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, tôi không thấy, không nghe quan điểm như vậy, tri kiến như vậy. Sao Tôn chủ lại nói: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”? Thưa Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Tôn chủ một vài câu hỏi. Tôn chủ hãy tùy theo đó mà trả lời. Tôn chủ nghĩ thế nào? Mặt trời và mặt trăng này, chúng thuộc thế giới này hay thế giới khác? Chúng thuộc như Thiên hay loài Người?

− Tôn giả Kassapa, mặt trời và mặt trăng thuộc thế giới khác, không phải thế giới này, chúng thuộc chư Thiên, không thuộc loài Người.

− Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, cần phải chấp nhận rằng: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”.

6. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?.

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những người bạn tri kỷ, thân tộc cùng một huyết thống. Những người này sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến. Những người này, sau một thời gian bị trọng bịnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Những ai sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói láo, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Nay các Hiền giả sát sanh, lấy của không cho, tà dâm nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến. Nếu lời nói những vị Sa môn Bà -la-môn ấy chính xác, thời các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục… Nếu các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các hiền giả là các thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy, thời sẽ là như vậy, như chính ta được thấy.” Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay!” Nhưng không có ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi sứ giả đến. Này Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.2. Ví dụ về tên trộm (Coraupamā)

“Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ hỏi lại ngài về điều này. Ngài thấy thế nào thì hãy trả lời thế ấy. Ngài nghĩ thế nào, này vương tử, giả sử ở đây những người của ngài bắt được một tên trộm phạm tội và giải đến ngài: ‘Thưa ngài, đây là tên trộm phạm tội; ngài muốn trừng phạt hắn thế nào thì hãy ra lệnh.’ Ngài nói với họ: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy trói chặt hai tay tên này ra sau lưng bằng dây thừng chắc chắn, cạo trọc đầu hắn, dẫn hắn đi dạo quanh các đường phố, các ngã tư với tiếng trống khàn, rồi đưa hắn ra khỏi cổng phía nam, và chặt đầu hắn tại khu hành hình ở phía nam thành phố.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi trói chặt hai tay tên trộm ra sau lưng bằng dây thừng chắc chắn, cạo trọc đầu hắn, dẫn hắn đi dạo quanh các đường phố, các ngã tư với tiếng trống khàn, rồi đưa hắn ra khỏi cổng phía nam, và bắt hắn ngồi xuống tại khu hành hình ở phía nam thành phố. Liệu tên trộm đó có thể xin những người đao phủ rằng: ‘Thưa các ngài đao phủ, xin hãy đợi một chút, tôi có bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống ở làng này hay thị trấn kia, để tôi đi dặn dò họ rồi sẽ quay lại’, hay là những người đao phủ sẽ chặt đầu hắn ngay khi hắn đang lải nhải?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, tên trộm đó không thể xin những người đao phủ rằng: ‘Thưa các ngài đao phủ, xin hãy đợi một chút, tôi có bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống ở làng này hay thị trấn kia, để tôi đi dặn dò họ rồi sẽ quay lại’. Mà những người đao phủ sẽ chặt đầu hắn ngay khi hắn đang lải nhải.”

“Này vương tử, tên trộm đó là con người, đối với những người đao phủ cũng là con người mà còn không thể xin được rằng: ‘Thưa các ngài đao phủ, xin hãy đợi một chút, tôi có bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống ở làng này hay thị trấn kia, để tôi đi dặn dò họ rồi sẽ quay lại’. Huống hồ gì những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống của ngài là những người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có tâm ác ý, có quan điểm sai, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục, làm sao họ có thể xin những người cai ngục địa ngục rằng: ‘Thưa các ngài cai ngục địa ngục, xin hãy đợi một chút, để chúng tôi đi đến báo cho vương tử Pāyāsi biết rằng: “Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu”’? Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào khiến ngài nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu’ không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp, có lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây tôi có những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có tâm ác ý, có Nhìn Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi). Sau một thời gian, họ bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Khi tôi biết: ‘Những người này sẽ không qua khỏi căn bệnh này’, tôi đi đến chỗ họ và nói: ‘Thưa các bạn, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm và chủ trương như sau: “Những ai từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có tâm ác ý, có Nhìn Thấy Thiện, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời.” Các bạn là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có tâm ác ý, có Nhìn Thấy Thiện. Nếu lời của các vị sa-môn, bà-la-môn ấy là sự thật, thì các bạn sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời. Thưa các bạn, nếu sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, các bạn tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, thì hãy đến báo cho tôi biết rằng: “Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.” Các bạn là những người đáng tin cậy, đáng tín nhiệm của tôi; những gì các bạn thấy cũng giống như chính tôi tự thấy vậy.’ Họ đồng ý với tôi: ‘Được’, nhưng họ không hề đến báo cho tôi, cũng không cử sứ giả đến. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

7. - Này Tôn chủ, nay tôi sẽ hỏi Tôn chủ, nếu có thể chấp nhận, Tôn chủ hãy trả lời. Tôn chủ nghĩ thế nào? Ở đời, có những người bắt được một người ăn trộm phạm lỗi và đem đến cho Ngài: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôn chủ trả lời những người ấy: “Hãy trói người này thật chặt, dùng dây thật chắc trói hai tay ra đằng sau, cạo trọc đầu anh ta, cho đánh trống lớn tiếng và dẫn anh ta đi từ đường này hẻm nọ, xong đưa ra khỏi cổng thành hướng Nam mà chặt đầu tại pháp trường hướng Nam.” Những người ấy vâng lời, trói người ăn trộm thật chặt, dùng dây thật chắc trói hai tay ra đằng sau, cao trọc đầu anh ta, cho đánh trống lớn tiếng và dẫn anh ta đi từ đường này hẻm nọ, xong đưa anh ta ra khỏi cổng thành hướng Nam và tại pháp trường hướng Nam, bắt anh ta ngồi xuống. Nay người ăn trộm ấy có thể xin người đem chém mình: “Thưa quý vị, quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở tại làng này, hay xã này.” Hay những người ấy chặt ngay đầu người ăn trộm cầu xin như vậy?

− Tôn giả Kassapa, người ăn trộm ấy không được những người đem chém mình cho phép: “Thưa quý vị, quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở tại làng này, hay xã này.” Những người ấy chặt ngay đầu người ăn trộm cầu xin như vậy.

− Này Tôn giả, người ăn trộm thuộc loài Người, không được phép người xử trảm mình cũng là loài Người: “Thưa quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở làng này, hay ở xã này”, thời làm sao những người thân bằng quyến thuộc của Ngài, đã sát sanh, lấy của không cho, tà đâm, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục lại được những người coi giữ địa ngục cho phép: “Thưa quý vị coi giữ địa ngục, quý vị hãy cho phép tôi về tâu với vua Pàyàsi: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

8. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những thân bằng quyến thuộc gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người này, sau một thời gian bị trọng bịnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm, những tri kiến như sau: “Những ai gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến, những người ấy khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới”. Chư Hiền giả gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Nếu lời nói của những Sa môn, Bà -la-môn ấy chính xác, thời các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện tphú, Thiên giới. Nếu các hiền giả, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các Hiền giả là thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy thời sẽ là như vậy, như chính ta được thấy”. Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay! Nhưng không có ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi các sứ giả đến. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.3. Ví dụ về người trong hố phân (Gūthakūpapurisaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói. Giả sử, này vương tử, có một người bị chìm ngập đến tận đầu trong một hố phân. Rồi ngài ra lệnh cho những người khác: ‘Này các bạn, hãy kéo người đó ra khỏi hố phân.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi kéo người đó ra khỏi hố phân. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy dùng những thanh tre cạo sạch phân trên cơ thể người đó.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi dùng những thanh tre cạo sạch phân trên cơ thể người đó. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy dùng đất sét vàng chà xát cơ thể người đó ba lần cho thật sạch.’ Họ chà xát cơ thể người đó bằng đất sét vàng ba lần cho thật sạch. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy thoa dầu cho người đó và dùng bột mịn tắm rửa cho người đó ba lần cho thật sạch.’ Họ thoa dầu và dùng bột mịn tắm rửa cho người đó ba lần cho thật sạch. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy cắt tóc và cạo râu cho người đó.’ Họ cắt tóc và cạo râu cho người đó. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy mang đến cho người đó vòng hoa đắt tiền, hương liệu đắt tiền và y phục đắt tiền.’ Họ mang đến cho người đó vòng hoa đắt tiền, hương liệu đắt tiền và y phục đắt tiền. Ngài lại nói với họ: ‘Này các bạn, hãy đưa người đó lên lâu đài và cung cấp năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa).’ Họ đưa người đó lên lâu đài và cung cấp năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Ngài nghĩ thế nào, này vương tử, liệu người đó sau khi đã được tắm rửa sạch sẽ, thoa hương liệu, cắt tóc cạo râu, đeo vòng hoa trang sức, mặc y phục trắng tinh, lên tầng gác của lâu đài tuyệt đẹp, được cung cấp và tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng, liệu người đó có muốn chìm lại vào hố phân đó nữa không?"

“Thưa Tôn giả Kassapa, không.” “Vì sao vậy?” “Thưa Tôn giả Kassapa, hố phân là dơ bẩn và được coi là dơ bẩn, có mùi hôi thối và được coi là có mùi hôi thối, đáng ghê tởm và được coi là đáng ghê tởm, đáng gớm ghiếc và được coi là đáng gớm ghiếc.”

“Cũng vậy, này vương tử, đối với chư thiên, con người là dơ bẩn và được coi là dơ bẩn, có mùi hôi thối và được coi là có mùi hôi thối, đáng ghê tởm và được coi là đáng ghê tởm, đáng gớm ghiếc và được coi là đáng gớm ghiếc. Này vương tử, mùi hôi của con người bốc lên làm phiền chư thiên xa đến một trăm do-tuần. Vậy thì làm sao những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống của ngài là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có tâm ác ý, có Nhìn Thấy Thiện, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, lại đến báo cho ngài biết rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu’? Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây tôi có những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu bia và các chất say gây mê muội (phóng dật / pamāda). Sau một thời gian, họ bị bệnh, đau đớn, ốm nặng. Khi tôi biết: ‘Những người này sẽ không qua khỏi căn bệnh này’, tôi đi đến chỗ họ và nói: ‘Thưa các bạn, có một số sa-môn, bà-la-môn có quan điểm và chủ trương như sau: “Những ai từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu bia và các chất say gây mê muội, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao Lợi).” Các bạn là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu bia và các chất say gây mê muội. Nếu lời của các vị sa-môn, bà-la-môn ấy là sự thật, thì các bạn sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Thưa các bạn, nếu sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, các bạn tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa, thì hãy đến báo cho tôi biết rằng: “Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.” Các bạn là những người đáng tin cậy, đáng tín nhiệm của tôi; những gì các bạn thấy cũng giống như chính tôi tự thấy vậy.’ Họ đồng ý với tôi: ‘Được’, nhưng họ không hề đến báo cho tôi, cũng không cử sứ giả đến. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

9. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Tôn chủ một ví dụ. Ở đời, một số người có trí nhờ ví dụ mà hiểu được nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ví như có người té đầu rơi vào hầm phân. Ngài nói với các người khác: “Hãy kéo người này ra khỏi hầm phân!” Những người ấy vâng theo và nói: “Lành thay!” và kéo người kia ra khỏi hầm phân ấy. Ngài nói với những người ấy: “Hãy lấy que tre gạt phân ra khỏi thân của người kia!” Những người này vâng theo và nói: “Lành thay!” và lấy que tre gạt phân ra khỏi thân người kia. Rồi ngài bảo các người ấy: “Hãy cho thoa bóp ba lần thân người kia với phấn hoa màu vàng.” Và những người ấy cho thoa bóp ba lần thân người kia với phấn thoa bóp màu vàng. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy lấy dầu thoa và tắm cho người kia ba lần và dùng bột mịn cunna thoa cho nó!” Và những người ấy lấy dầu thoa và tắm cho người kia ba lần và dùng bột mịn cunna thoa cho nó. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy sửa soạn râu tóc cho người kia!” Và những người ấy sửa soạn râu tóc cho kia. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy lấy vòng hoa quý, dầu thơm quý và vải quý trang điểm cho người kia!” Và những người ấy trang điểm vòng hoa quý, dầu thơm quý và vải quý cho người kia. Rồi Ngài bảo các người ấy : “Hãy đưa người kia đến tòa lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc!” Và những người ấy đưa người kia đến tòa lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc. Tôn chủ nghĩ thế nào? Người kia khéo tắm như vậy, khéo thoa dầu, khéo sửa soạn râu tóc, khéo trang điểm với vòng hoa và vải trắng, được đưa đến lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc như vậy, thử hỏi người kia có chịu đâm đầu vào hầm phân ấy nữa không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa!

− Vì sao không?

− Tôn giả Kassapa, hầm phân là bất tịnh và được xem là bất tịnh, xú uế và được xem là xú uế, ghê tởm và được xem là ghê tởm, yếm ố và được xem là yếm ố.

− Này Tôn chủ, mùi hôi của loài Người khiến chư Thiên ghê tởm xa đến một trăm do tuần. Làm sao những người thân bằng quyến thuộc của Ngài, gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, những người ấy có thể về tin lại cho Tôn chủ: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”.

10. - Dầu Tôn giả Kasspa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những người thân bằng quyến thuộc gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người này sau một thời gian bị trọng bệnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Những ai gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người ấy khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới”. Chư Hiền giả gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và tà kiến. Nếu lời nói của những vị Sa môn, Bà -la-môn này chính xác thời các Hiền giả, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các Hiền giả là thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy sẽ là như vậy, như chính ta được thấy.” Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay!” Nhưng không ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi các sứ giả đến. Này Tôn giả Kassapa sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.4. Ví dụ về chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Tāvatiṁsadevaupamā)

“Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ hỏi lại ngài về điều này; ngài thấy thế nào thì hãy trả lời thế ấy. Này vương tử, một trăm năm của con người chỉ bằng một ngày một đêm của chư thiên cõi Tāvatiṁsa; ba mươi đêm như vậy làm thành một tháng; mười hai tháng như vậy làm thành một năm; một ngàn năm chư thiên như vậy là tuổi thọ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Những người bạn bè, quan lại, thân nhân cùng huyết thống của ngài là những người từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu bia và các chất say gây mê muội, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Nếu họ nghĩ rằng: ‘Hãy để chúng ta tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng cõi trời trong hai hoặc ba ngày đêm, rồi chúng ta sẽ đi đến báo cho vương tử Pāyāsi biết rằng: “Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.”’ Liệu họ có thể đến báo cho ngài biết rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu’ được không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, không thể được. Bởi vì lúc đó chúng tôi đã chết từ lâu rồi. Nhưng thưa Tôn giả Kassapa, ai đã báo cho ngài biết rằng: ‘Có chư thiên cõi Tāvatiṁsa’ hay ‘Chư thiên cõi Tāvatiṁsa có tuổi thọ dài như vậy’? Chúng tôi không tin Tôn giả Kassapa rằng: ‘Có chư thiên cõi Tāvatiṁsa’ hay ‘Chư thiên cõi Tāvatiṁsa có tuổi thọ dài như vậy’.”

11. - Này Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Ngài. Nếu Ngài xem có thể được Ngài hãy trả lời. Này Tôn chủ, tuổi loài người một trăm năm bằng một ngày một đêm chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Ba mươi đêm như vậy là một tháng, mười hai tháng như vậy là một năm, một ngàn năm ở Thiên giới như vậy là tuổi thọ của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Những thân bằng quyến thuộc của Tôn chủ như vậy gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Các vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới và làm thiện hữu với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Nếu những vị này suy nghĩ: “Chúng ta hãy thọ hưởng một món dục lạc hai hay ba ngày đêm ở Thiên giới, rồi sau sẽ đến Tôn chủ Pàyàsi và tin cho biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.” Và những vị ấy có đến Ngài và tin cho biết: “Có đời sau, có loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo” không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa! Tôn giả Kassapa, vì chúng tôi sẽ chết đã lâu rồi. Nhưng ai cho Tôn giả Kassapa biết: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên, Hay chư Thiên ở Tam thập tam thiên tuổi thọ là như vậy”. Chúng tôi không tin người ấy, khi người ấy nói: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên! Hay chư Thiên ở Tam thập tam thiên, tuổi thọ là như vậy!”

2.5. Ví dụ về người mù bẩm sinh (Jaccandhaupamā)

“Giả sử, này vương tử, có một người mù bẩm sinh không thể nhìn thấy các hình ảnh màu đen hay trắng, không thể nhìn thấy các hình ảnh màu xanh, không thể nhìn thấy các hình ảnh màu vàng, không thể nhìn thấy các hình ảnh màu đỏ, không thể nhìn thấy các hình ảnh màu hồng, không thể nhìn thấy chỗ bằng phẳng hay gồ ghề, không thể nhìn thấy các vì sao, không thể nhìn thấy mặt trăng và mặt trời. Người đó nói rằng: ‘Không có các hình ảnh màu đen hay trắng, không có người nhìn thấy các hình ảnh màu đen hay trắng. Không có các hình ảnh màu xanh, không có người nhìn thấy các hình ảnh màu xanh. Không có các hình ảnh màu vàng, không có người nhìn thấy các hình ảnh màu vàng. Không có các hình ảnh màu đỏ, không có người nhìn thấy các hình ảnh màu đỏ. Không có các hình ảnh màu hồng, không có người nhìn thấy các hình ảnh màu hồng. Không có chỗ bằng phẳng hay gồ ghề, không có người nhìn thấy chỗ bằng phẳng hay gồ ghề. Không có các vì sao, không có người nhìn thấy các vì sao. Không có mặt trăng và mặt trời, không có người nhìn thấy mặt trăng và mặt trời. Tôi không biết điều đó, tôi không thấy điều đó, do đó điều đó không tồn tại.’ Này vương tử, người đó nói như vậy có đúng không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, không đúng. Có các hình ảnh màu đen hay trắng, có người nhìn thấy các hình ảnh màu đen hay trắng. Có các hình ảnh màu xanh, có người nhìn thấy các hình ảnh màu xanh […lặp lại…] có chỗ bằng phẳng hay gồ ghề, có người nhìn thấy chỗ bằng phẳng hay gồ ghề. Có các vì sao, có người nhìn thấy các vì sao. Có mặt trăng và mặt trời, có người nhìn thấy mặt trăng và mặt trời. Nói rằng: ‘Tôi không biết điều đó, tôi không thấy điều đó, do đó điều đó không tồn tại’, thưa Tôn giả Kassapa, người đó nói như vậy là không đúng.”

“Cũng vậy, này vương tử, ngài giống như người mù bẩm sinh khi ngài nói với tôi như vậy: ‘Ai đã báo cho Tôn giả Kassapa biết rằng: “Có chư thiên cõi Tāvatiṁsa” hay “Chư thiên cõi Tāvatiṁsa có tuổi thọ dài như vậy”? Chúng tôi không tin Tôn giả Kassapa rằng: “Có chư thiên cõi Tāvatiṁsa” hay “Chư thiên cõi Tāvatiṁsa có tuổi thọ dài như vậy”.’ Này vương tử, thế giới khác không thể được nhìn thấy bằng con mắt thịt này như ngài nghĩ đâu. Này vương tử, những vị sa-môn, bà-la-môn nào sống ở những nơi hoang vắng, trong rừng sâu, những chỗ ở hẻo lánh, họ sống ở đó không mê muội, nhiệt tâm, kiên quyết, họ thanh lọc thiên nhãn. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá khả năng của con người, họ nhìn thấy thế giới này, thế giới khác và các chúng sinh sinh ra tự nhiên. Này vương tử, thế giới khác phải được nhìn thấy như vậy; chứ không phải bằng con mắt thịt này như ngài nghĩ. Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây tôi thấy các sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp, muốn sống, không muốn chết, muốn hạnh phúc, ghét đau khổ. Thưa Tôn giả Kassapa, tôi nghĩ như sau: Nếu những vị sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp này biết rằng: ‘Sau khi chết, chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn’, thì ngay bây giờ những vị sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp này đã uống thuốc độc, hoặc dùng dao tự sát, hoặc treo cổ tự tử, hoặc nhảy xuống vực thẳm rồi. Nhưng vì những vị sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp này không biết rằng: ‘Sau khi chết, chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn’, nên những vị sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp này muốn sống, không muốn chết, muốn hạnh phúc, ghét đau khổ, không tự giết mình. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

− Này Tôn chủ, như có người sanh ra đã mù, không thấy được các sắc đen hay trắng, không thấy được các sắc xanh, hay sắc vàng, các sắc đỏ, hay các sắc nâu, không thấy được các sắc tế nhị hay thô cứng, không thấy được các sao hay mặt trăng. Người ấy nói: “Không có các sắc đen hay trắng, không có người thấy các sắc đen hay trắng; không có sắc xanh, không có người thấy sắc xanh; không có sắc vàng, không có người thấy các sắc vàng; không có sắc đỏ, không có người thấy các sắc đỏ; không có sắc nâu, không có người thấy các sắc nâu, không các sắc tế nhị, thô cứng, không có người thấy các sắc tế nhị, thô cứng; không có các sao, không có người thấy các sao; không có mặt trăng, mặt trời, không có người thấy mặt trăng mặt trời. Tôi không biết vật này, tôi không thấy vật này, nên vật này không có. Này Tôn chủ, nói như vậy có phải nói một cách hợp lý không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa. Có các sắc đen hay trắng, có người thấy các sắc đen hay trắng; có các sắc xanh, có người thấy các sắc xanh; có các sắc vàng, có người thấy các sắc vàng; có các sắc đỏ, có người thấy các sắc đỏ; có các sắc nâu, có người thấy các sắc nâu; có các vật tế nhị hay thô cứng, có người thấy các vật tế nhị hay thô cứng; có các vì sao, có người thấy các vì sao; có mặt trăng, mặt trời, có người thấy mặt trăng, mặt trời. “Tôi không biết vật này, tôi không thấy vật này, do vậy vật này không có.” Tôn giả Kassapa, ai nói như vậy là nói không hợp lý!

− Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài nói cũng giống người sinh ra đã mù khi Ngài nói với tôi: “Ai bảo Tôn giả Kassapa biết rằng: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên,” hay “Chư thiên ở Tam thập Tam thiên tuổi thọ là như vậy!” Chúng tôi không tin Tôn giả Kassapa, khi Tôn giả nói: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên,” hay “Chư thiên ở Tam thập tam thiên tuổi thọ là như vậy”.

Này Tôn chủ, đời sau không như Ngài nghĩ có thể thấy bằng con mắt thịt. Này Tôn chủ, có những Sa môn, Bà -la-môn, sống những chỗ hẻo lánh trong rừng, ít có tiếng ồn, ít có tiếng động. Tại những chỗ ấy, các vị này sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, làm cho thiên nhãn trong sạch. Rồi với thiên nhãn thanh tịnh thắng xa loài Người, các vị này thấy đời này, đời sau, và thấy các loại hóa sanh. Này Tôn chủ, đời sau phải được thấy như vậy. Không phải như Ngài nghĩ với con mắt thịt. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

12. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, ở đây tôi thấy có những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, thiện tánh, ham sống, ngại chết, ham sướng, ngại khổ. Tôn giả Kassapa, rồi tôi nghĩ: “Nếu những Sa môn, Bà -la-môn này giữ giới, có thiện tánh, được biết: “Sau khi chúng ta chết rồi, đời chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn.” Rồi những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh ấy, hoặc uống thuốc độc, hoặc lấy kiếm đâm, hoặc tự giết mình bằng cách treo cổ, hay tự lao mình xuống hố sâu. Vì những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới có thiện tánh ấy không được biết: “Sau khi chúng ta chết rồi, đời chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn.” Do vậy các Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh ấy ham sống, ngại chết, ham sướng, ngại khổ. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.6. Ví dụ về người phụ nữ mang thai (Gabbhinīupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một bà-la-môn có hai người vợ. Một người có một đứa con trai khoảng mười hay mười hai tuổi, người kia đang mang thai sắp đến ngày sinh. Rồi vị bà-la-môn đó qua đời.

Khi ấy, cậu thanh niên nói với người mẹ kế: ‘Thưa bà, bất cứ tài sản nào, lúa gạo, bạc hay vàng, tất cả đều là của tôi; bà không có phần nào ở đây cả. Thưa bà, hãy giao lại tài sản thừa kế của cha tôi cho tôi.’

Khi được nói vậy, nữ bà-la-môn nói với cậu thanh niên: ‘Này con, hãy đợi cho đến khi ta sinh con. Nếu là con trai, nó cũng sẽ có một phần; nếu là con gái, nó sẽ là người phục vụ cho con.’

Lần thứ hai, cậu thanh niên nói với người mẹ kế: ‘Thưa bà, bất cứ tài sản nào, lúa gạo, bạc hay vàng, tất cả đều là của tôi; bà không có phần nào ở đây cả. Thưa bà, hãy giao lại tài sản thừa kế của cha tôi cho tôi.’ Lần thứ hai, nữ bà-la-môn nói với cậu thanh niên: ‘Này con, hãy đợi cho đến khi ta sinh con. Nếu là con trai, nó cũng sẽ có một phần; nếu là con gái, nó sẽ là người phục vụ cho con.’ Lần thứ ba, cậu thanh niên nói với người mẹ kế: ‘Thưa bà, bất cứ tài sản nào, lúa gạo, bạc hay vàng, tất cả đều là của tôi; bà không có phần nào ở đây cả. Thưa bà, hãy giao lại tài sản thừa kế của cha tôi cho tôi.’

Khi ấy, nữ bà-la-môn lấy một con dao, đi vào phòng và mổ bụng mình: ‘Để xem ta sinh ra con trai hay con gái.’ Bà ấy đã tự hủy hoại chính mình, mạng sống của mình, thai nhi và cả tài sản.

Giống như người phụ nữ ngu ngốc, thiếu hiểu biết đó đã rơi vào tai họa và sự hủy diệt vì tìm kiếm tài sản thừa kế một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ (phi như lý / ayoniso), cũng vậy, này vương tử, ngài là người ngu ngốc, thiếu hiểu biết, sẽ rơi vào tai họa và sự hủy diệt vì tìm kiếm thế giới khác một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ; giống hệt như nữ bà-la-môn ngu ngốc, thiếu hiểu biết đã rơi vào tai họa và sự hủy diệt vì tìm kiếm tài sản thừa kế một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ. Này vương tử, các sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp không ép buộc những gì chưa chín phải chín; mà họ chờ đợi sự chín muồi. Này vương tử, mạng sống của các sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp là có ý nghĩa đối với những người có trí. Này vương tử, các sa-môn, bà-la-môn có lối sống đạo đức, có phẩm chất tốt đẹp sống càng lâu, tồn tại càng dài, thì họ càng tạo ra nhiều điều tốt lành (phước báu / puñña), và họ thực hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’"

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây những người của tôi bắt được một tên trộm phạm tội và giải đến tôi: ‘Thưa ngài, đây là tên trộm phạm tội; ngài muốn trừng phạt hắn thế nào thì hãy ra lệnh.’ Tôi nói với họ: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy bỏ người này khi còn sống vào một cái chum, đậy kín miệng lại, bọc bằng da ướt, trát một lớp đất sét ướt thật dày, đặt lên bếp và châm lửa.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi bỏ người đó khi còn sống vào một cái chum, đậy kín miệng lại, bọc bằng da ướt, trát một lớp đất sét ướt thật dày, đặt lên bếp và châm lửa. Khi chúng tôi biết ‘người đó đã chết’, chúng tôi nhấc cái chum xuống, đập vỡ ra, mở miệng chum và từ từ nhìn vào: ‘Biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng (mạng / jīva) của hắn thoát ra.’ Nhưng chúng tôi không hề thấy sinh mạng của hắn thoát ra. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

13. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Tôn chủ một ví dụ. Ở đời, một số người có trí nhờ ví dụ mà hiểu được nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ngày xưa có một người Bà -la-môn có hai người vợ. Từ một người vợ, ông ta có đứa con trai, mười hai tuổi; còn người vợ kia có mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Rồi người Bà -lamôn ấy mệnh chung. Ðứa con trai ấy nói với tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu nay không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi.” Khi nghe nói vậy, Bà -la-môn nữ kia nói với đứa con trai ấy: “Tiểu tử hãy chờ ta sanh con. Nếu ta sanh con trai, thì một phần gia tài thuộc về nó. Nếu sanh con gái, thời nó sẽ hầu hạ con.”

Lần thứ hai, đứa con trai ấy nói với Tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu nay không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi.” Lần thứ hai, Bà -la-môn nữ kia nói với đứa trai ấy: “Tiểu tử hãy chờ ta sanh con. Nếu ta sanh con trai thì một phần gia tài thuộc về nó. Nếu ta sanh con gái, thời nó sẽ hầu hạ con.”

Lần thứ ba, đứa con trai ấy nói với Tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi”. Ròi người Ba la môn nữ ấy lấy một con dao, vào trong nội phòng và rạch bụng ra. “Ta muốn biết đó là con trai hay con gái.” Như vậy người đàn bà ấy hại đời sống của mình, hại luôn cái thai và hại luôn tài sản của mình vì đã đi tìm của thừa tự một cách ngu suẩn và si mê, nên gặp phải nguy hiểm và tai nạn. Cũng vậy, vì ngu suẩn và si mê, Ngài gặp phải ngu suẩn và tai nạn khi Ngài đi tìm đời sau một cách vô trí, cũng giống Bà -la-môn nữ kia, vì ngu suẩn và si mê, đã đi tìm thừa tự một cách vô trí. Này Tôn chủ, các vị Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiên tánh không bắt buộc cái gì chưa chín phải chín. Vì có trí, các vị ấy chờ chín muồi đến. Này Tôn chủ, các vị Sa môn, Bà -la-môn giữ giới có thiện tánh cần thiết đến mạng sống. Này Tôn chủ, nếu các Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh sống lâu ở trên đời này bao nhiêu, các vị ấy làm được nhiều công đức bấy nhiêu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên: “Có đời sau, có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

14. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Này Tôn giả Kassapa, ở đây có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi và nói: “Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn. “Tôi nói với họ: “Các Hiền giả, hãy bỏ sống người này trong một cái chum, bịt miệng chum lại, dùng da ướt bao lại, dùng đất sét ướt quện lại trét trên miệng chum, nhắc chum ấy trên cái lò và nổi lửa đốt. Các người ấy đáp: “Xin vâng!”, rồi họ bỏ sống người ấy trong cái chum, bịt miệng chum lại, dùng da ướt bao lại, dùng đất sét ướt quện lại trét trên miệng chum lại, nhắc chum ấy trên cái lò và nổi lửa đốt. Khi chúng tôi biết người ấy đã chết, liền nhắc chum ấy xuống, cởi các dây buộc, mở miệng chum ra vội vàng nhìn kỹ: “Chúng ta mong được thấy linh hồn (người chết) đi ra”. Nhưng chúng tôi không thấy linh hồn người chết đi ra. Tôn giả Kassap, sự kiện là như vậy nên tôi tin rằng. “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.7. Ví dụ về giấc mơ (Supinakaupamā)

“Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ hỏi lại ngài về điều này, ngài thấy thế nào thì hãy trả lời thế ấy. Này vương tử, ngài có nhớ khi đang ngủ trưa, ngài đã thấy một giấc mơ về những khu vườn tuyệt đẹp, những khu rừng tuyệt đẹp, những vùng đất tuyệt đẹp, những hồ sen tuyệt đẹp không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, tôi nhớ khi đang ngủ trưa, tôi đã thấy một giấc mơ về những khu vườn tuyệt đẹp, những khu rừng tuyệt đẹp, những vùng đất tuyệt đẹp, những hồ sen tuyệt đẹp.”

“Vào lúc đó, có những người gù lưng, người lùn, các thiếu nữ và các cô gái trẻ canh gác cho ngài không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, vâng, vào lúc đó có những người gù lưng, người lùn, các thiếu nữ và các cô gái trẻ canh gác cho tôi.”

“Liệu họ có thấy sinh mạng của ngài đi vào hay đi ra không?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, không.”

“Này vương tử, họ là những người đang sống mà còn không thấy sinh mạng của ngài đang sống đi vào hay đi ra. Vậy làm sao ngài có thể thấy sinh mạng của một người đã chết đi vào hay đi ra được? Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây những người của tôi bắt được một tên trộm phạm tội và giải đến tôi: ‘Thưa ngài, đây là tên trộm phạm tội; ngài muốn trừng phạt hắn thế nào thì hãy ra lệnh.’ Tôi nói với họ: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy cân người này khi còn sống trên một cái cân, rồi dùng dây cung siết cổ hắn cho đến chết mà không làm tổn thương bên ngoài, sau đó cân lại trên cái cân đó.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi cân người đó khi còn sống trên một cái cân, dùng dây cung siết cổ hắn cho đến chết mà không làm tổn thương bên ngoài, sau đó cân lại trên cái cân đó. Khi người đó còn sống, hắn nhẹ hơn, mềm mại hơn và linh hoạt hơn. Nhưng khi người đó đã chết, hắn nặng hơn, cứng đơ hơn và không linh hoạt. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

15. - Này Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài xem có thể được, Ngài hãy trả lời. Này Tôn chủ, khi Ngài nghỉ trưa, Ngài có chấp nhận Ngài có thấy những cảnh mộng hoan lạc ở vườn, ở rừng, ở đồng bằng, ở ao hồ không?

− Tôn giả Kassapa, tôi xác nhận khi đi nghĩ trưa, tôi có thấy những cảnh mộng hoan lạc ở vườn, ở rừng, ở đồng bằng, ở ao hồ.

− Trong khi ấy, có phải Ngài được một số người hầu hạ một bên, những người gù lưng, thấp lùn, thiếu phụ và con gái?

− Vâng, Tôn giả Kassapa, trong khi ấy, tôi được một số người hầu hạ một bên, những người gù lưng, thấp lùn, thiếu phụ và con gái.

− Và họ thấy linh hồn của Ngài đi ra hay đi vào không?

− Tôn giả Kassapa, thưa không.

− Này Tôn chủ, họ không thấy linh hồn của Tôn chủ đi ra hay đi vào, thời làm sao Ngài có thể thấy linh hồn một người chết đi vào hay đi ra được? Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên tôi chấp nhận: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

16. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, ở đời, có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ: “Các khanh hãy đem cân sống anh ta đi, rồi lấy dây cung thắt cổ cho anh ta chết, xong đem cân lại.” Những người này vâng lời tôi và đáp: “Xin vâng!”, rồi họ đem cân sống người ăn trộm ấy, lấy dây cung thắt cổ anh ta cho đến chết xong cân lại. Khi anh ta sống thì anh ta nhẹ, mềm mại, nhu nhuyến. Khi anh ta chết, thì anh ta nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.8. Ví dụ về quả cầu sắt nung đỏ (Santattaayoguḷaupamā)

“Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói. Giả sử, này vương tử, một người đem cân một quả cầu sắt đã được nung nóng suốt cả ngày, rực cháy, bốc lửa, sáng rực trên một cái cân. Sau một thời gian, người đó đem cân quả cầu sắt đó khi nó đã nguội lạnh, tắt ngấm trên cái cân. Khi nào thì quả cầu sắt đó nhẹ hơn, mềm mại hơn và linh hoạt hơn: khi nó rực cháy, bốc lửa, sáng rực, hay khi nó nguội lạnh, tắt ngấm?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, khi quả cầu sắt đó đi kèm với yếu tố lửa và yếu tố gió, rực cháy, bốc lửa, sáng rực, thì nó nhẹ hơn, mềm mại hơn và linh hoạt hơn. Nhưng khi quả cầu sắt đó không đi kèm với yếu tố lửa, không đi kèm với yếu tố gió, nguội lạnh, tắt ngấm, thì nó nặng hơn, cứng đơ hơn và không linh hoạt.”

“Cũng vậy, này vương tử, khi cơ thể này đi kèm với tuổi thọ, đi kèm với hơi ấm và đi kèm với ‘cái biết’ (thức / viññāṇa), thì nó nhẹ hơn, mềm mại hơn và linh hoạt hơn. Nhưng khi cơ thể này không đi kèm với tuổi thọ, không đi kèm với hơi ấm, không đi kèm với ‘cái biết’, thì nó nặng hơn, cứng đơ hơn và không linh hoạt. Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây những người của tôi bắt được một tên trộm phạm tội và giải đến tôi: ‘Thưa ngài, đây là tên trộm phạm tội; ngài muốn trừng phạt hắn thế nào thì hãy ra lệnh.’ Tôi nói với họ: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy tước đoạt mạng sống của người này mà không làm tổn thương lớp da ngoài, da trong, thịt, gân, xương và tủy xương, biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng của hắn thoát ra.’ Họ đồng ý: ‘Vâng’, rồi tước đoạt mạng sống của người đó mà không làm tổn thương lớp da ngoài… […lặp lại…] tước đoạt mạng sống. Khi người đó vừa mới chết, tôi nói: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy đặt người này nằm ngửa, biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng của hắn thoát ra.’ Họ đặt người đó nằm ngửa. Chúng tôi không hề thấy sinh mạng của hắn thoát ra. Tôi nói: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy đặt người này nằm sấp… nằm nghiêng một bên… nằm nghiêng bên kia… dựng đứng lên… lộn ngược xuống… dùng tay đập… dùng cục đất đập… dùng gậy đập… dùng dao đập… lắc mạnh, giũ mạnh, quăng quật, biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng của hắn thoát ra.’ Họ lắc mạnh, giũ mạnh, quăng quật người đó. Chúng tôi không hề thấy sinh mạng của hắn thoát ra. Vẫn là con mắt đó, vẫn là những hình ảnh đó, nhưng giác quan (xứ / āyatana) đó không cảm nhận được. Vẫn là lỗ tai đó, vẫn là những âm thanh đó, nhưng giác quan đó không cảm nhận được. Vẫn là cái mũi đó, vẫn là những mùi hương đó, nhưng giác quan đó không cảm nhận được. Vẫn là cái lưỡi đó, vẫn là những vị đó, nhưng giác quan đó không cảm nhận được. Vẫn là cơ thể đó, vẫn là những xúc chạm đó, nhưng giác quan đó không cảm nhận được. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

17. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ví như người cân một hòn sắt được đốt nóng trọn ngày, cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực, và một thời khác cũng đem cân hòn sắt ấy nhưng nay đã nguội lạnh. Khi nào thì hòn sắt ấy nhẹ hơn, mềm mại hơn, hay nhu nhuyến hơn? Khi hòn sắt ấy đang cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực hay khi đã nguội lạnh?

− Tôn giả Kassapa, khi hòn sắt ấy cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực, khi ấy hòn sắt nhẹ hơn, mềm mại hơn và nhu nhuyến hơn. Khi hòn sắt ấy không cháy đỏ, không hừng lửa, nguội lạnh rồi, khi đó hòn sắt nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến.

− Này Tôn chủ, khi thân này có tuổi thọ, có sức nặng, có thức thì nó nhẹ hơn, mềm mại hơn và nhu nhuyến hơn. Khi các thân này không có tuổi thọ, không có sức nóng và không có thức thời nó nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhập: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

18. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ như sau: “Các khanh, hãy giết người này bằng cách lột da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, và xương tủy của anh ta”. Những người này vâng lời tôi và đáp: “Xin vâng, Tôn chủ!” rồi họ bèn giết người ấy bằng cách lột da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, và xương tủy. Khi người áy chết một phần nửa, tôi bảo họ: “Hãy lật ngược người này nằm ngữa, và xem linh hồn của anh ta có đi ra không?” Họ lật ngược người này nằm ngửa, và chúng tôi không thấy linh hồn người ấy đi ra. Tôi lại bảo họ: “Hãy lật người này nằm cong lại… nằm phía một bên… nằm phía bên kia… đặt người đó đứng thẳng… đặt người ấy đứng lộn đầu xuống… đánh người ấy với tay… đánh người ấy với cục đất… đánh người ấy với gậy… đánh người ấy với gươm… đánh anh ta phía bên này… đánh anh ta phía bên kia… đánh anh ta cùng khắp tất cả và xem linh hồn của anh ta có đi ra không? “Họ đánh anh ta phía bên này, đánh anh ta phía bên kia, đánh anh ta cùng khắp tất cả và chúng tôi không thấy linh hồn người ấy đi ra. Anh ta có mắt và sắc pháp các mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có tai và các tiếng có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có mũi và các hương mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có lưỡi và các vị có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có thân và các xúc có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.9. Ví dụ về người thổi tù và (Saṅkhadhamaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một người thổi tù và mang theo một chiếc tù và đi đến một vùng biên địa. Người đó đi đến một ngôi làng; sau khi đến, đứng giữa làng, thổi tù và ba lần, rồi đặt chiếc tù và xuống đất và ngồi xuống một bên.

Khi ấy, này vương tử, những người dân vùng biên địa đó nghĩ rằng: ‘Này các bạn, âm thanh của cái gì mà hấp dẫn thế, quyến rũ thế, say đắm thế, trói buộc thế, mê hoặc thế?’ Họ tụ tập lại và hỏi người thổi tù và: ‘Này bạn, âm thanh của cái gì mà hấp dẫn thế, quyến rũ thế, say đắm thế, trói buộc thế, mê hoặc thế?’

‘Thưa các bạn, đây là chiếc tù và, âm thanh của nó hấp dẫn thế, quyến rũ thế, say đắm thế, trói buộc thế, mê hoặc thế.’

Họ đặt chiếc tù và nằm ngửa và nói: ‘Kêu đi, này tù và, kêu đi, này tù và.’ Chiếc tù và không hề phát ra âm thanh.

Họ đặt chiếc tù và nằm sấp, nằm nghiêng một bên, nằm nghiêng bên kia, dựng đứng lên, lộn ngược xuống, dùng tay đập, dùng cục đất đập, dùng gậy đập, dùng dao đập, lắc mạnh, giũ mạnh, quăng quật và nói: ‘Kêu đi, này tù và, kêu đi, này tù và.’ Chiếc tù và không hề phát ra âm thanh.

Khi ấy, này vương tử, người thổi tù và nghĩ rằng: ‘Những người dân vùng biên địa này thật ngu ngốc, làm sao họ có thể tìm kiếm âm thanh của chiếc tù và một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ như vậy?’ Trong khi họ đang nhìn, người đó cầm lấy chiếc tù và, thổi ba lần, rồi mang chiếc tù và rời đi.

Khi ấy, này vương tử, những người dân vùng biên địa đó nghĩ rằng: ‘Thưa các bạn, hóa ra khi chiếc tù và này đi kèm với con người, đi kèm với nỗ lực và đi kèm với luồng hơi, thì chiếc tù và này mới phát ra âm thanh; nhưng khi chiếc tù và này không đi kèm với con người, không đi kèm với nỗ lực, không đi kèm với luồng hơi, thì chiếc tù và này không phát ra âm thanh.’

Cũng vậy, này vương tử, khi cơ thể này đi kèm với tuổi thọ, đi kèm với hơi ấm và đi kèm với ‘cái biết’, thì nó bước tới, bước lui, đứng, ngồi, nằm, dùng mắt nhìn hình ảnh, dùng tai nghe âm thanh, dùng mũi ngửi mùi, dùng lưỡi nếm vị, dùng thân chạm xúc, dùng ý nhận biết Quy luật (pháp / dhamma). Nhưng khi cơ thể này không đi kèm với tuổi thọ, không đi kèm với hơi ấm, không đi kèm với ‘cái biết’, thì nó không bước tới, không bước lui, không đứng, không ngồi, không nằm, không dùng mắt nhìn hình ảnh, không dùng tai nghe âm thanh, không dùng mũi ngửi mùi, không dùng lưỡi nếm vị, không dùng thân chạm xúc, không dùng ý nhận biết Quy luật. Bằng phương pháp này, này vương tử, ngài hãy hiểu rằng: ‘Như thế này: có thế giới khác, có chúng sinh sinh ra tự nhiên, có kết quảsự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’"

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

"Nhưng này vương tử, ngài có phương pháp nào […lặp lại…]

"Thưa Tôn giả Kassapa, tôi có phương pháp […lặp lại…]

“Phương pháp đó như thế nào, này vương tử?”

“Thưa Tôn giả Kassapa, ở đây những người của tôi bắt được một tên trộm phạm tội và giải đến tôi: ‘Thưa ngài, đây là tên trộm phạm tội; ngài muốn trừng phạt hắn thế nào thì hãy ra lệnh.’ Tôi nói với họ: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy lột lớp da ngoài của người này, biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng của hắn.’ Họ lột lớp da ngoài của người đó. Chúng tôi không hề thấy sinh mạng của hắn. Tôi nói: ‘Nếu vậy, này các bạn, hãy lột da trong của người này, cắt thịt, cắt gân, chặt xương, chẻ tủy xương, biết đâu chúng ta có thể thấy sinh mạng của hắn.’ Họ chẻ tủy xương của người đó, chúng tôi không hề thấy sinh mạng của hắn. Đây là phương pháp, thưa Tôn giả Kassapa, là lý do khiến tôi nghĩ rằng: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’”

19. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này Tôn chủ, thuở xưa có một người thổi tù và, cầm tù và bằng vỏ ốc và đi đến biên giới. Người ấy đi đến một làng kia, sau khi đến xong, đứng giữa làng, thổi ống tù và ba lần, đặt ống tù và xuống đất và ngồi xuống một bên. Này Tôn chủ, những người dân ở biên giới ấy suy nghĩ: “Tiếng ấy là tiếng của ai mà lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy.” Họ tụ họp lại và hỏi người thổi tù và: “Này bạn, tiếng ấy là tiếng của ai mà lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy?” “- Này các bạn, đây là cái tù và, và tiếng của tù và ấy khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy.” Họ bèn đặt chiếc tù và nằm ngửa và nói: “Hãy nói đi, bạn tù và! Hãy nói đi, bạn tù và!” Nhưng chiếc tù và ấy không nói tiếng gì hết. Họ đặt chiếc tù và ấy nằm cong lại, nằm phía bên này, nằm phía bên kia… đặt đứng thẳng… đặt ngược đầu xuống… lấy tay đánh… lấy cục đấy đánh… lấy gậy đánh… lấy gươm đánh… đánh phía bên này… đánh phía bên kia… đánh cùng khắp tất cả và nói: “Này bạn tù và, hãy nói đi! Này bạn tù và, hãy nói đi!” Nhưng chiếc tù và ấy không nói gì cả. Này Tôn chủ, rồi người thổi tù và suy nghĩ như sau: “Thật là ngu si, những người dân ở biên giới này! Sao lại đi tìm tiếng tù và một cách vô ý thức như vậy!” Trong khi họ đang tìm kiếm như vậy, người thổi tù và cầm chiếc tù và lên, thổi lên ba lần rồi cầm chiếc tù và ra đi. Này Tôn chủ, những người ở biên giới suy nghĩ như sau: “Này các bạn, chiếc tù và này, khi nào có người phụ trợ, có sự nỗ lực phụ trợ và có gió thổi phụ trợ, thì chiếc tù và phát ra tiếng. Khi nào chiếc tù và này không có người phụ trợ, không có sự nỗ lực phụ trợ và không có gió thổi phụ trợ thì chiếc tù và này không phát ra tiếng.” Cũng vậy, này Tôn chủ! Khi nào thân này có tuổi thọ phụ trợ, có hơi nóng phụ trợ và có thức phụ trợ, thời thân ấy đi tới, đi lui, đứng lên, ngồi xuống, nằm xuống, thời mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp. Nhưng khi thân này không có tuổi thọ phụ trợ, không có hợi nóng phụ trợ, và không có thức phụ trợ, thời thân ấy không đi tới, không đi lui, không đứng lại, không ngồi xuống, không nằm xuống, thời mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi hương, lưỡi không nếm vị, thân không cảm xúc, ý không biết pháp. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

20. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, nay có những người bắt được một tên ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ như sau: “Các khanh hãy lột da anh ta, để chúng ta có thể thấy linh hồn của anh ta.” Chúng lột da của người ấy, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của anh ta. Rồi tôi bảo họ: “Các khanh hãy lột da trong của người ấy… cắt thịt… cắt gân… cắt xương… đẻo cho đến xương tủy để chúng ta có thể thấy linh hồn của anh ta.” Họ đẽo cho đến xương tủy của người ấy, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của anh ta. Này Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.10. Ví dụ về đạo sĩ thờ lửa (Aggikajaṭilaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một đạo sĩ bện tóc thờ lửa sống trong một túp lều lợp lá ở trong rừng. Khi ấy, này vương tử, có một đoàn lữ hành từ một vùng quê khởi hành. Đoàn lữ hành đó đã cắm trại một đêm gần am thất của đạo sĩ bện tóc thờ lửa rồi rời đi. Khi ấy, này vương tử, đạo sĩ bện tóc thờ lửa nghĩ rằng: ‘Ta nên đi đến chỗ đoàn lữ hành đã cắm trại, biết đâu ta có thể tìm được vật dụng gì đó.’

Sáng sớm, đạo sĩ bện tóc thờ lửa thức dậy và đi đến chỗ đoàn lữ hành đã cắm trại; sau khi đến, ông thấy một bé trai sơ sinh bị bỏ rơi tại nơi cắm trại đó. Thấy vậy, ông nghĩ: ‘Thật không phải đạo nếu ta đứng nhìn một sinh linh chết đi; ta nên mang đứa bé này về am thất, nuôi dưỡng, chăm sóc và nuôi lớn nó.’ Rồi đạo sĩ bện tóc thờ lửa mang đứa bé về am thất, nuôi dưỡng, chăm sóc và nuôi lớn nó.

Khi đứa bé được khoảng mười hay mười hai tuổi, đạo sĩ bện tóc thờ lửa có việc phải đi vào làng. Đạo sĩ bện tóc thờ lửa nói với đứa bé: ‘Này con, cha muốn đi vào làng; con hãy chăm sóc ngọn lửa. Đừng để ngọn lửa tắt. Nếu ngọn lửa tắt, đây là cái rìu, đây là củi, đây là bộ dụng cụ tạo lửa (araṇi), con hãy tạo ra lửa và chăm sóc ngọn lửa.’ Sau khi dặn dò đứa bé như vậy, đạo sĩ bện tóc thờ lửa đi vào làng.

Đứa bé mải chơi nên ngọn lửa bị tắt. Khi ấy, đứa bé nghĩ: ‘Cha đã dặn ta: “Này con, con hãy chăm sóc ngọn lửa. Đừng để ngọn lửa tắt. Nếu ngọn lửa tắt, đây là cái rìu, đây là củi, đây là bộ dụng cụ tạo lửa, con hãy tạo ra lửa và chăm sóc ngọn lửa.” Ta nên tạo ra lửa và chăm sóc ngọn lửa.’

Rồi đứa bé dùng rìu chặt bộ dụng cụ tạo lửa: ‘Biết đâu ta có thể tìm thấy lửa.’ Nó không hề tìm thấy lửa.

Nó chẻ bộ dụng cụ tạo lửa làm hai, làm ba, làm bốn, làm năm, làm mười, làm một trăm mảnh, băm thành từng mảnh nhỏ, băm thành từng mảnh nhỏ rồi bỏ vào cối giã, bỏ vào cối giã rồi đem ra trước gió lớn để sàng sảy: ‘Biết đâu ta có thể tìm thấy lửa.’ Nó không hề tìm thấy lửa.

Khi đạo sĩ bện tóc thờ lửa giải quyết xong công việc ở làng, ông quay về am thất của mình; sau khi đến, ông hỏi đứa bé: ‘Này con, ngọn lửa không bị tắt chứ?’ ‘Thưa cha, con mải chơi nên ngọn lửa bị tắt. Con nghĩ: “Cha đã dặn ta: Này con, con hãy chăm sóc ngọn lửa. Đừng để ngọn lửa tắt. Nếu ngọn lửa tắt, đây là cái rìu, đây là củi, đây là bộ dụng cụ tạo lửa, con hãy tạo ra lửa và chăm sóc ngọn lửa. Ta nên tạo ra lửa và chăm sóc ngọn lửa.” Rồi thưa cha, con dùng rìu chặt bộ dụng cụ tạo lửa: “Biết đâu ta có thể tìm thấy lửa.” Con không hề tìm thấy lửa. Con chẻ bộ dụng cụ tạo lửa làm hai, làm ba, làm bốn, làm năm, làm mười, làm một trăm mảnh, băm thành từng mảnh nhỏ, băm thành từng mảnh nhỏ rồi bỏ vào cối giã, bỏ vào cối giã rồi đem ra trước gió lớn để sàng sảy: “Biết đâu ta có thể tìm thấy lửa.” Con không hề tìm thấy lửa.’ Khi ấy, đạo sĩ bện tóc thờ lửa nghĩ: ‘Đứa bé này thật ngu ngốc, thiếu hiểu biết, làm sao nó có thể tìm kiếm lửa một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ như vậy?’

Trong khi đứa bé đang nhìn, ông lấy bộ dụng cụ tạo lửa, tạo ra lửa và nói với đứa bé: ‘Này con, lửa phải được tạo ra như thế này. Chứ không phải như con, một kẻ ngu ngốc, thiếu hiểu biết, tìm kiếm lửa một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ.’ Cũng vậy, này vương tử, ngài là người ngu ngốc, thiếu hiểu biết, sẽ tìm kiếm thế giới khác một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ. Này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này; này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Đừng để nó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho ngài."

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi không thể từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Vua Pasenadi nước Kosala và các vị vua khác đều biết tôi: ‘Vương tử Pāyāsi có quan điểm và chủ trương như sau: “Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.”’ Thưa Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này, người ta sẽ nói về tôi: ‘Vương tử Pāyāsi thật ngu ngốc, thiếu hiểu biết, bám giữ những quan điểm sai lầm.’ Tôi sẽ mang theo nó vì tức giận, tôi sẽ mang theo nó vì đạo đức giả, tôi sẽ mang theo nó vì cố chấp.”

21. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho một ví dụ. Ở đời một số người có trí thức, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa câu nói. Này Tôn chủ, thuở xưa có người bện tóc thờ lửa, sống trong một ngôi nhà lá, tại một khu rừng. Này Tôn chủ, một số dân chúng di cư đến đấy. Vị lãnh đạo của chúng, sau một đêm ở xung quanh cái cốc của người bện tóc thờ lửa bèn bỏ đi. Này Tôn chủ, người bện tóc thờ lửa suy nghĩ: “Nếu ta đến chỗ ở của người lãnh đạo, ta có thể kiếm được một vài đồ vật hữu dụng ở đó.” Rồi người bện tóc thở lửa, dậy sớm đến chỗ ở của người lãnh đạo, và thấy một đứa hài nhi bị quăng nằm ngửa ở đó. Thấy vậy vị ấy nghĩ: “Thật không phải chút nào nếu ta để một hài nhi phải chết trong khi ta đang tìm kiếm. Ta hãy đem hài nhi này về cốc của ta, nuôi nó, săn sóc nó, cấp dưỡng nó”. Rồi người bện tóc thờ lửa ấy đem đứa hài nhi ấy về cốc nuôi nó, săn sóc nó, cấp dưỡng nó. Khi đứa trẻ đến tuổi mười hay mười hai, người bện tóc thờ lửa có công việc phải đi xuống đồng bằng. Người bện tóc thờ lửa bảo đứa trẻ ấy: Này con, ta muốn đi xuống đồng bằng, hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để nó tắt. Nếu lửa có tắt, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quay để nhóm lửa, hãy nhen lửa lại và chăm sóc ngọn lửa”. Người bện tóc thở lửa ấy, sau khi căn dặn đứa trẻ, bèn đi xuống đồng bằng. Ðứa trẻ mãi ham vui đùa khiến lửa tắt. Ðứa trẻ suy nghĩ: “Cha ta có bảo ta: “Hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để nó tắt. Nếu con để tắt lửa, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quay để nhóm lửa lại.” Vậy ta hãy nhen lửa lên và chăm sóc ngọn lửa.” Rồi đứa trẻ ấy lấy búa chẻ đồ quây lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm thấy lửa.” Nhưng lửa không có. Nó đem chẻ đồ quây lửa làm hai, làm ba, làm bốn,làm năm, làm mười, làm trăm, chẻ nhỏ vụn ra, lấy chày mà giã, và sau khi đã giã nhỏ, lại đem ra sàng trước gió lớn với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm thấy lửa.” Nhưng lửa không có. Người bện tóc sau khi làm xong công việc ở đồng bằng, liền về cốc của mình và hỏi đứa bé: “Này con, sao con để tắt lửa thế này,?” - “Thưa cha, con mãi ham chơi nên để lửa tắt. Rồi con suy nghĩ: “Cha đã bảo ta: “Hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để tắt nó. Nếu con để tắt lửa, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quây để nhen lửa. Hãy nhen lửa lại và chăm sóc ngọn lửa”. Vậy ta hãy nhen lửa lên và chăm sóc ngọn lửa”. Thưa cha, rồi con lấy búa nhỏ chẻ đồ quây lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm ra lửa.” Nhưng con tìm không được lửa. Con đem chẻ đồ quây lửa, làm hai, làm ba, lám bốn, làm năm, làm mười, làm trăm, chẻ nhỏ vụn ra, lấy chày mà giã, và sau khi giã nhỏ, lại đem ra sàng trước gió lớn với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm ra lửa,” nhưng con không tìm được lửa”. Rồi người bện tóc thờ lửa ấy suy nghĩ: “Ðứa trẻ này thật ngu si và kém thông minh. Sao lại đi tìm lửa một cách thiếu suy tư như thế này?” Trong khi đứa trẻ đứng nhìn, người ấy cầm đồ quây lửa, nhen lửa lên và nói với đứa trẻ: “Này con, nhen lửa phải làm như vậy đó, chớ không phải như con ngu si và kém thông minh, tìm lửa một cách thiếu suy tư.” Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài ngu si, kém thông minh, đi tìm đời sau một cách kém suy tư. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác kiến ấy! Chớ có tự dấn thân vào sự bất an và đau khổ trường kỳ.

22. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, Tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyà thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận, nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì lừa gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.11. Ví dụ về hai người trưởng đoàn lữ hành (Dvesatthavāhaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một đoàn lữ hành lớn với một ngàn cỗ xe đi từ một vùng phía đông sang một vùng phía tây. Bất cứ nơi nào đoàn lữ hành đi qua, cỏ, củi, nước và lá xanh đều nhanh chóng cạn kiệt. Trong đoàn lữ hành đó có hai người trưởng đoàn, mỗi người phụ trách năm trăm cỗ xe. Khi ấy, hai người trưởng đoàn nghĩ: ‘Đoàn lữ hành này quá lớn với một ngàn cỗ xe; bất cứ nơi nào chúng ta đi qua, cỏ, củi, nước và lá xanh đều nhanh chóng cạn kiệt. Hay là chúng ta chia đoàn lữ hành này làm hai—một nửa năm trăm cỗ xe, một nửa năm trăm cỗ xe.’ Họ chia đoàn lữ hành làm hai, một nửa năm trăm cỗ xe, một nửa năm trăm cỗ xe.

Một người trưởng đoàn chất đầy cỏ, củi và nước rồi cho đoàn lữ hành khởi hành. Sau khi đi được hai ba ngày, đoàn lữ hành thấy một người đàn ông da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đội vòng hoa súng trắng, quần áo ướt sũng, tóc ướt sũng, bánh xe dính đầy bùn, đang đi ngược chiều trên một cỗ xe đẹp. Thấy vậy, trưởng đoàn hỏi: ‘Này bạn, bạn từ đâu đến?’

‘Từ vùng kia.’

‘Bạn sẽ đi đâu?’

‘Đến vùng nọ.’

‘Này bạn, phía trước trong sa mạc có mưa lớn không?’

‘Đúng vậy, này bạn, phía trước trong sa mạc có mưa lớn, đường sá ngập nước, có rất nhiều cỏ, củi và nước. Này bạn, hãy vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, cho những cỗ xe nhẹ bớt và đi thật nhanh, đừng làm những con vật kéo xe kiệt sức.’

Khi ấy, người trưởng đoàn nói với những người trong đoàn: ‘Người đàn ông này nói rằng: “Phía trước trong sa mạc có mưa lớn, đường sá ngập nước, có rất nhiều cỏ, củi và nước. Này bạn, hãy vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, cho những cỗ xe nhẹ bớt và đi thật nhanh, đừng làm những con vật kéo xe kiệt sức.” Này các bạn, hãy vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, cho những cỗ xe nhẹ bớt và tiếp tục hành trình.’

‘Vâng, thưa ngài’, những người trong đoàn đáp lời người trưởng đoàn, rồi vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ, cho những cỗ xe nhẹ bớt và tiếp tục hành trình.

Tại điểm cắm trại đầu tiên, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Tại điểm cắm trại thứ hai… thứ ba… thứ tư… thứ năm… thứ sáu… thứ bảy, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Tất cả đều rơi vào tai họa và sự hủy diệt. Bất cứ con người hay súc vật nào trong đoàn lữ hành đó đều bị con dạ-xoa (yakkha) phi nhân đó ăn thịt. Chỉ còn lại những đống xương.

Khi người trưởng đoàn thứ hai biết: ‘Đoàn lữ hành kia đã đi được một thời gian dài’, ông chất đầy cỏ, củi và nước rồi cho đoàn lữ hành khởi hành. Sau khi đi được hai ba ngày, đoàn lữ hành thấy một người đàn ông da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đội vòng hoa súng trắng, quần áo ướt sũng, tóc ướt sũng, bánh xe dính đầy bùn, đang đi ngược chiều trên một cỗ xe đẹp. Thấy vậy, trưởng đoàn hỏi: ‘Này bạn, bạn từ đâu đến?’

‘Từ vùng kia.’

‘Bạn sẽ đi đâu?’

‘Đến vùng nọ.’

‘Này bạn, phía trước trong sa mạc có mưa lớn không?’

‘Đúng vậy, này bạn, phía trước trong sa mạc có mưa lớn. Đường sá ngập nước, có rất nhiều cỏ, củi và nước. Này bạn, hãy vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, cho những cỗ xe nhẹ bớt và đi thật nhanh, đừng làm những con vật kéo xe kiệt sức.’

Khi ấy, người trưởng đoàn nói với những người trong đoàn: ‘Người đàn ông này nói rằng: “Phía trước trong sa mạc có mưa lớn, đường sá ngập nước, có rất nhiều cỏ, củi và nước. Này bạn, hãy vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, cho những cỗ xe nhẹ bớt và đi thật nhanh; đừng làm những con vật kéo xe kiệt sức.” Này các bạn, người đàn ông này không phải là bạn của chúng ta, cũng không phải là thân nhân cùng huyết thống, làm sao chúng ta có thể tin lời hắn mà đi? Không được vứt bỏ cỏ, củi và nước cũ, hãy tiếp tục hành trình với hàng hóa như cũ. Chúng ta sẽ không vứt bỏ những thứ cũ.’

‘Vâng, thưa ngài’, những người trong đoàn đáp lời người trưởng đoàn, rồi tiếp tục hành trình với hàng hóa như cũ.

Tại điểm cắm trại đầu tiên, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Tại điểm cắm trại thứ hai… thứ ba… thứ tư… thứ năm… thứ sáu… thứ bảy, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Và họ thấy đoàn lữ hành kia đã rơi vào tai họa và sự hủy diệt. Bất cứ con người hay súc vật nào trong đoàn lữ hành kia, họ chỉ thấy những đống xương do con dạ-xoa phi nhân đó ăn thịt.

Khi ấy, người trưởng đoàn nói với những người trong đoàn: ‘Này các bạn, đoàn lữ hành này đã rơi vào tai họa và sự hủy diệt, đó là do người trưởng đoàn ngu ngốc kia dẫn dắt. Vậy thì, này các bạn, những hàng hóa nào ít giá trị trong đoàn lữ hành của chúng ta, hãy vứt bỏ chúng đi, và lấy những hàng hóa có giá trị lớn trong đoàn lữ hành kia.’

‘Vâng, thưa ngài’, những người trong đoàn đáp lời người trưởng đoàn, rồi vứt bỏ những hàng hóa ít giá trị trong đoàn lữ hành của mình, lấy những hàng hóa có giá trị lớn trong đoàn lữ hành kia, và vượt qua sa mạc đó một cách an toàn, nhờ vào người trưởng đoàn khôn ngoan dẫn dắt.

Cũng vậy, này vương tử, ngài là người ngu ngốc, thiếu hiểu biết, sẽ rơi vào tai họa và sự hủy diệt vì tìm kiếm thế giới khác một cách không tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ, giống như người trưởng đoàn đầu tiên. Những ai nghĩ rằng họ nên nghe theo và tin tưởng ngài, họ cũng sẽ rơi vào tai họa và sự hủy diệt, giống như những người trong đoàn lữ hành đó. Này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này; này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Đừng để nó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho ngài."

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi không thể từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Vua Pasenadi nước Kosala và các vị vua khác đều biết tôi: ‘Vương tử Pāyāsi có quan điểm và chủ trương như sau: “Như thế này: không có thế giới khác […lặp lại…] sự chín muồi.”’ Thưa Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này, người ta sẽ nói về tôi: ‘Vương tử Pāyāsi thật ngu ngốc, thiếu hiểu biết, bám giữ những quan điểm sai lầm.’ Tôi sẽ mang theo nó vì tức giận, tôi sẽ mang theo nó vì đạo đức giả, tôi sẽ mang theo nó vì cố chấp.”

23. - Vậy này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Ở đời một số người có trí, nhờ ví dụ mà hiểu ý nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, thuở xưa, một đoàn lữ hành lớn gồm một ngàn cỗ xe đi từ phương Ðông quốc độ qua phương Tây quốc độ. Ði đến chỗ nào, đoàn lữ hành ấy cũng tiêu thụ rất mau cỏ, củi, nước và cây lá xanh tươi. Ðoàn lữ hành ấy có hai vị lãnh đạo, một vị lãnh đạo năm trăm cỗ xe, một vị lãnh đạo năm trăm cỗ xe. Hai vị lãnh đạo đoàn lữ hành suy nghĩ như sau: “Ðoàn lữ hành lớn này gồm có một ngàn cỗ xe. Chỗ nào chúng ta đi tới thì đoàn tiêu thụ rất mau cỏ, củi, nước và cây lá xanh tươi. Vậy chúng ta hãy chia đoàn lữ hành này thành hai, mỗi đoàn có năm trăm cỗ xe.” Rồi hai vị lãnh đạo ấy chia đoàn lữ hành thành hai, một đoàn có năm trăm cỗ xe, một đoàn có năm trăm cỗ xe. Rồi một vị lãnh đạo thâu lượm rất nhiều cỏ, củi, nước và cho đoàn lữ hành chuyển bánh. Sau khi đi hai, ba ngày, vị lãnh đạo ấy thấy một người da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đeo vòng hoa súng, áo quần ướt, tóc ướt, đánh một cỗ xe do lừa kéo, bánh xe dính đầy bùn và đi từ phía trước đi lại. Thấy vậy, người lãnh đạo hỏi:

“- Bạn từ phương nào đến?

“- Từ nơi quốc độ kia đến.

“- Bạn sẽ đi đâu?

“- Sẽ đi đến địa phương tên này.

“- Bạn có thấy, trong khu rừng trước mặt, có mưa to gần đây không?

“- Thưa bạn, trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường xá đầy sũng những nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.”

Khi ấy người lãnh đạo nói với những người đánh xe:

“- Này các Bạn, người này nói như sau: Trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường sá đầy sũng nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.” Vậy các bạn hãy quăng cỏ, củi và nước cũ đi, để đoàn xe đi với những cỗ xe nhẹ hơn.

“- Thưa Bạn, vâng!”

Những người đánh xe vâng theo lời vị lãnh đạo đoàn lữ hành, quăng cỏ, củi và nước cũ đi và dẫn đoàn xe đi với những cỗ xe nhẹ hơn. Nhưng khi đi đến trạm nghỉ thứ nhất, họ không thấy cỏ, củi hay nước, trạm thứ hai cũng vậy… trạm thứ ba cũng vậy… trạm thứ tư cũng vậy… trạm thứ năm cũng vậy… trạm thứ sáu cũng vậy… trạm thứ bảy cũng vậy, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Tất cả đều gặp sự bất hạnh và tai nạn. Tất cả người và vật trong lữ đoàn ấy, đều bị Dạ xoa, phi nhân ăn thịt, chỉ còn xương để lại.

Khi người lãnh đạo đoàn thứ hai được biết: “Nay đoàn kia đi đã khá xa”, bèn cho thâu lượm nhiểu cỏ, củi và nước và cho đoàn khởi hành. Sau khi đi hai, ba ngày, vị lãnh đạo ấy thấy một người da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đeo vòng hoa súng, áo quần ướt, tóc ướt, đánh một cỗ xe do lừa kéo, bánh xa dính đầy bùn và đi từ phía trước đi lại. Thấy vậy người lãnh đạo hỏi:

“- Bạn từ phương nào đến?

“- Từ nơi quốc độ kia đến.

“- Bạn sẽ đi đâu?

“- Sẽ đi đến địa phương tên này.

“- Bạn có thấy trong khu rừng trước mặt, có mưa to gần đây không? “- Thưa Bạn, trong khu rừng trước mặt, có mưa to, đường sá đầy sũng những nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.

Khi ấy người lãnh đạo nói với những người đánh xe:

“- Này các Bạn, người này nói như sau: Trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường sá đầy sũng nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cổ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ làm cho đoàn xe mệt nhọc.” Nhưng này các Bạn, người ấy không phải là bạn của chúng ta, cũng không phải là bà con ruột thịt, làm sao chúng ta có thể tin người ấy được? Chớ quăng bỏ các thứ cỏ, củi và nước đã dự trữ từ trước. Hãy cho đoàn lữ hành tiến tới với các hàng hóa đã được mang theo, chúng ta không quăng bỏ đi các vật đang dự trữ từ trước.

“- Thưa Bạn, vâng.”

Những người đánh xe ấy, vâng theo lời người lãnh đạo, cho đoàn lữ hành tiến tới với những hàng hóa đã mang theo. Ðến trạm nghĩ thứ nhất những người này không thấy cỏ, củi hay nước, đến trạm thứ hai cũng vậy… trạm thứ ba cũng vậy… trạm thứ tư cũng vậy… trạm thứ năm cũng vậy… trạm thứ sáu cũng vậy… trạm thứ bảy cũng vậy… chúng không thấy cỏ, củi hay nước, nhưng chúng thấy đoàn lữ hành trước bị lâm vào tai nạn. Những người và thú vật trong đoàn lữ hành kia, chúng thấy các bộ xương do con Dạ xoa phi nhân ấy ăn thịt.

Rồi người lãnh đạo nói với các người đánh xe:

“- Này các Bạn, đoàn lữ hành ấy bị lâm nạn vì bị người lãnh đạo ngu si như vậy hướng dẫn. Vậy này các bạn, hãy bỏ đi những vật hạng ít giá trị của đoàn lữ hành này, hãy đem theo những vật hạng đắt giá của đoàn lữ hành kia!

“- Thưa Bạn, vâng!”

Những người đánh xe ấy vâng theo người lãnh đạo quăng bỏ đi những vật hạng ít giá trị của đoàn lữ hành của mình, đem đi theo những vật hạng đắt giá của đoàn lữ hành kia và đi qua bãi sa mạc ấy một cách an toàn, vì được hướng dẫn bởi một vị lãnh đạo sáng suốt. Cũng vậy này Tôn chủ, người ngu si không có trí sẽ gặp nạn vì đã đi tìm kiếm đời sau một cách thiếu suy tư, giống như người lãnh đạo đoàn lữ hành kia. Những ai tự nghĩ có thể tin bất cứ điều gì được nghe sẽ gặp hoạn nạn như những người đánh xe kia. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, bãy từ bỏ ác tà kiến này. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ bất hạnh lâu dài!”

24. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala là vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.12. Ví dụ về người gánh phân (Gūthabhārikaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài. Nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một người nuôi lợn đi từ làng của mình sang một ngôi làng khác. Tại đó, người ấy thấy một đống phân khô lớn bị vứt bỏ. Thấy vậy, người ấy nghĩ: ‘Đây là một đống phân khô lớn bị vứt bỏ, và nó là thức ăn cho lợn của ta; ta nên mang đống phân khô này từ đây về.’ Người ấy trải áo choàng ngoài ra, gom đống phân khô lớn vào, buộc thành một bọc, đội lên đầu và đi. Trên đường đi, một cơn mưa lớn trái mùa trút xuống. Người ấy bị phân ướt chảy ròng ròng, nhỏ giọt, dính đầy từ đầu đến chân, nhưng vẫn đội gánh phân mà đi.

Mọi người thấy người ấy liền nói: ‘Này anh bạn, anh bị điên à, anh mất trí rồi sao, làm sao anh có thể đội gánh phân chảy ròng ròng, nhỏ giọt, dính đầy từ đầu đến chân mà đi như vậy?’

‘Này các bạn, chính các bạn mới bị điên, chính các bạn mới mất trí, vì đây là thức ăn cho lợn của tôi.’

Cũng vậy, này vương tử, ngài giống như người gánh phân đó khi ngài nói với tôi như vậy. Này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này; này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Đừng để nó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho ngài."

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi không thể từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Vua Pasenadi nước Kosala và các vị vua khác đều biết tôi: ‘Vương tử Pāyāsi có quan điểm và chủ trương như sau: “Như thế này: không có thế giới khác […lặp lại…] sự chín muồi.”’ Thưa Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này, người ta sẽ nói về tôi: ‘Vương tử Pāyāsi thật ngu ngốc, thiếu hiểu biết, bám giữ những quan điểm sai lầm.’ Tôi sẽ mang theo nó vì tức giận, tôi sẽ mang theo nó vì đạo đức giả, tôi sẽ mang theo nó vì cố chấp.”

25. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kể một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa có một người nuôi heo đi từ làng của mình đến một làng khác. Ở tại đấy, ông ta thấy một đống phân khô bị quăng bỏ. Thấy vậy, nó tự nghĩ: “Ðống phân khô khá nhiều bị quăng bỏ đi có thể làm đồ ăn cho các con heo của ta. Vậy ta hãy mang đống phân khô này đi.” Rồi ông ta trải áo choàng của nó mang đống phân khô lại, cột thành một gói đặt trên đầu rồi đi. Ði giữa đường, một cơn mưa lớn trái mùa xẩy ra. Ông mang bọc phân ấy đi, với phân thấm ướt tiết ra và chảy thành giọt, làm ông lem lấm phân cho đến đầu móng tay. Mọi người thấy ông liền nói: “Ông có thật sự điên, thật sự khùng chăng? Làm sao ông lại mang bọc phân ấy đi, với nước phân thấm ướt tiết ra và chảy thành giọt, làm người lem lấm phân cho đến đầu móng tay.” - Chính các Người mới thật sự điên, chính các Người mới thật sự khùng. Chính nhờ như thế này, các con heo của tôi mới có đồ ăn.” Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài nói chẳng khác gì ví dụ người mang phân này. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

26. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”. Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kíê ấy. Vì lừa gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.13. Ví dụ về kẻ nghiện cờ bạc (Akkhadhuttakaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài, nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có hai kẻ nghiện cờ bạc đang chơi xúc xắc. Một kẻ nghiện cờ bạc cứ mỗi lần xúc xắc ra mặt thua là nuốt luôn viên xúc xắc đó.

Kẻ nghiện cờ bạc thứ hai thấy kẻ kia cứ mỗi lần xúc xắc ra mặt thua là nuốt luôn viên xúc xắc, thấy vậy liền nói với kẻ kia: ‘Này bạn, bạn thắng liên tục rồi, hãy đưa xúc xắc cho tôi, tôi sẽ cúng tế chúng.’

‘Được thôi, bạn’, kẻ nghiện cờ bạc kia đưa xúc xắc cho kẻ này.

Sau đó, kẻ nghiện cờ bạc này tẩm thuốc độc vào xúc xắc rồi nói với kẻ kia: ‘Đến đây, bạn, chúng ta hãy chơi xúc xắc.’

‘Được thôi, bạn’, kẻ nghiện cờ bạc kia đồng ý.

Lần thứ hai, hai kẻ nghiện cờ bạc chơi xúc xắc. Lần thứ hai, kẻ nghiện cờ bạc kia cứ mỗi lần xúc xắc ra mặt thua là nuốt luôn viên xúc xắc.

Kẻ nghiện cờ bạc thứ hai thấy kẻ kia lần thứ hai cứ mỗi lần xúc xắc ra mặt thua là nuốt luôn viên xúc xắc, thấy vậy liền nói với kẻ kia:

‘Được tẩm bằng sức mạnh tột độ, Kẻ nuốt xúc xắc không hề hay biết; Nuốt đi, nuốt đi, hỡi kẻ cờ bạc tồi tệ, Về sau ngươi sẽ phải chịu cay đắng.’

Cũng vậy, này vương tử, ngài giống như kẻ nghiện cờ bạc đó khi ngài nói với tôi như vậy. Này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này; này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Đừng để nó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho ngài."

“Mặc dù Tôn giả Kassapa nói như vậy, nhưng tôi không thể từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Vua Pasenadi nước Kosala và các vị vua khác đều biết tôi: ‘Vương tử Pāyāsi có quan điểm và chủ trương như sau: “Như thế này: không có thế giới khác […lặp lại…] sự chín muồi.”’ Thưa Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này, người ta sẽ nói về tôi: ‘Vương tử Pāyāsi thật ngu ngốc, thiếu hiểu biết, bám giữ những quan điểm sai lầm.’ Tôi sẽ mang theo nó vì tức giận, tôi sẽ mang theo nó vì đạo đức giả, tôi sẽ mang theo nó vì cố chấp.”

27. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kê một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa, có hai người đánh bạc đổ con xúc xắc. Một con bạc mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Con bạc thứ hai thấy con bạc ấy mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Thấy vậy người này bàn với người kia: “Này Bạn, Bạn đã thắng rõ ràng. Bạn hãy đưa cho tôi các con xúc xắc để đi làm lễ tế.” - “ Thưa Bạn, vâng!”, con bạc ấy liền đưa các con xúc xắc cho con bạc kia. Người này bèn lấy thuốc độc thoa vào các con xúc xắc và nói với người kia: “Này Bạn, hãy chơi đổ các con xúc xắc.” “Thưa Bạn, vâng!”, con bạc ấy vâng theo lời của con bạc kia. Lần thứ hai, hai con bạc ấy đổ con xúc xắc, lần thứ hai, con bạc này mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Con bạc thứ hai thấy con bạc kia, lần thứ hai, mỗi lần thua ngậm con xúc xắc thất bại. Thấy vậy, người ấy nói với con bạc kia:

Con người không được biết.
Con xúc xắc được ngậm,
Ðã được bôi thoa nhiều,
Với thuốc độc đốt cháy.
Hãy ngậm đi, ngậm đi,
Con bạc ác độc kia!
Ngậm xong nhà Ngươi phải
Ðau đớn vô cùng tận.

Cũng vậy này Tôn chủ. Ngài nói chẳng khác gì ví dụ người đánh bạc. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

28. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo!” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy, người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc”. Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì lường gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy!

2.14. Ví dụ về người gánh gai dầu (Sāṇabhārikaupamā)

"Nếu vậy, này vương tử, tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài, nhờ ví dụ, một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Thuở xưa, này vương tử, có một vùng quê bị bỏ hoang. Khi ấy, một người bạn nói với người bạn kia: ‘Đi nào, bạn, chúng ta hãy đi đến vùng quê đó, biết đâu chúng ta có thể tìm được chút tài sản.’

‘Được thôi, bạn’, người bạn kia đồng ý.

Họ đi đến vùng quê đó, đến một ngôi làng nọ, tại đó họ thấy rất nhiều gai dầu bị vứt bỏ. Thấy vậy, người bạn nói với người bạn kia: ‘Này bạn, có rất nhiều gai dầu bị vứt bỏ ở đây. Vậy thì, bạn hãy buộc một gánh gai dầu, tôi cũng sẽ buộc một gánh gai dầu, cả hai chúng ta sẽ mang gánh gai dầu đi.’

‘Được thôi, bạn’, người bạn kia đồng ý, rồi buộc một gánh gai dầu. Cả hai mang gánh gai dầu đi đến một ngôi làng khác.

Tại đó, họ thấy rất nhiều sợi gai dầu bị vứt bỏ. Thấy vậy, người bạn nói với người bạn kia: ‘Này bạn, mục đích chúng ta muốn gai dầu là để làm gì, ở đây có rất nhiều sợi gai dầu bị vứt bỏ. Vậy thì, bạn hãy vứt bỏ gánh gai dầu đi, tôi cũng sẽ vứt bỏ gánh gai dầu, cả hai chúng ta sẽ mang gánh sợi gai dầu đi.’

‘Này bạn, gánh gai dầu này của tôi đã mang từ xa đến và được buộc rất kỹ, tôi không cần đâu, bạn cứ làm theo ý bạn.’ Thế rồi, người bạn kia vứt bỏ gánh gai dầu và lấy gánh sợi gai dầu.

Họ đi đến một ngôi làng khác. Tại đó, họ thấy rất nhiều vải gai dầu bị vứt bỏ. Thấy vậy, người bạn nói với người bạn kia: ‘Này bạn, mục đích chúng ta muốn gai dầu hay sợi gai dầu là để làm gì, ở đây có rất nhiều vải gai dầu bị vứt bỏ. Vậy thì, bạn hãy vứt bỏ gánh gai dầu đi, tôi cũng sẽ vứt bỏ gánh sợi gai dầu, cả hai chúng ta sẽ mang gánh vải gai dầu đi.’

‘Này bạn, gánh gai dầu này của tôi đã mang từ xa đến và được buộc rất kỹ, tôi không cần đâu, bạn cứ làm theo ý bạn.’ Thế rồi, người bạn kia vứt bỏ gánh sợi gai dầu và lấy gánh vải gai dầu.

Họ đi đến một ngôi làng khác. Tại đó, họ thấy rất nhiều lanh bị vứt bỏ, thấy vậy… […lặp lại…] rất nhiều sợi lanh bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều vải lanh bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều bông bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều sợi bông bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều vải bông bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều sắt bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều đồng bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều thiếc bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều chì bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều bạc bị vứt bỏ, thấy vậy… rất nhiều vàng bị vứt bỏ. Thấy vậy, người bạn nói với người bạn kia: ‘Này bạn, mục đích chúng ta muốn gai dầu, hay sợi gai dầu, hay vải gai dầu, hay lanh, hay sợi lanh, hay vải lanh, hay bông, hay sợi bông, hay vải bông, hay sắt, hay đồng, hay thiếc, hay chì, hay bạc là để làm gì, ở đây có rất nhiều vàng bị vứt bỏ. Vậy thì, bạn hãy vứt bỏ gánh gai dầu đi, tôi cũng sẽ vứt bỏ gánh bạc, cả hai chúng ta sẽ mang gánh vàng đi.’

‘Này bạn, gánh gai dầu này của tôi đã mang từ xa đến và được buộc rất kỹ, tôi không cần đâu, bạn cứ làm theo ý bạn.’ Thế rồi, người bạn kia vứt bỏ gánh bạc và lấy gánh vàng.

Họ đi về ngôi làng của mình. Tại đó, người bạn mang gánh gai dầu về không được cha mẹ chào đón, không được vợ con chào đón, không được bạn bè, quan lại chào đón, và người đó không có được hạnh phúc, vui vẻ từ việc đó. Còn người bạn mang gánh vàng về thì được cha mẹ chào đón, được vợ con chào đón, được bạn bè, quan lại chào đón, và người đó có được hạnh phúc, vui vẻ từ việc đó.

Cũng vậy, này vương tử, ngài giống như người gánh gai dầu đó khi ngài nói với tôi như vậy. Này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này; này vương tử, hãy từ bỏ quan điểm sai tồi tệ này. Đừng để nó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho ngài."

29. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kể một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa, một quốc gia dời đi chỗ khác. Một người nói với các bạn thuộc hạ của mình: “Này các Bạn, chúng ta hãy đi đến quốc gia kia, rất có thể chúng ta tìm được tiền bạc của cải.” Thưa Bạn, vâng!”, các thuộc hạ vâng lời người bạn kia. Họ đi đến quốc gia kia, và đến một đường làng. Họ thấy một đống gai, quăng bỏ. Thấy vậy, một người bạn nói với các người kia: “Ðây là một đống gai quăng bỏ. Bạn hãy nhóm lại thành một bó. Tôi cũng nhóm lại thành một bó gai. Chúng ta hãy đem bó gai ấy đi.” - “Thưa Bạn, vâng!”, người bạn này vâng theo người bạn kia và cột bó gai lại. Họ mang hai bó gai, và đi đến một làng khác. Họ thấy một đống dây gai quăng bỏ. Thấy vậy một người bạn nói với người kia: “Ðống dây gai quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với bó dây gai ấy. Vậy ban hãy nhóm lại thành một bó dây gai. Tôi cũng nhóm lại thành một bó dây gai. Chúng ta hãy đem hai bó dây gai ấy đi.” - “Này Bạn, tôi đem đống dây gai này từ xa lại, và đống day gai được bó buộc kỹ lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ, bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bó dây gai và lấy đống dây gai.

Rồi họ đến một con đường khác. Ở đấy họ thấy nhiều vải gai được quăng bỏ. Thấy vậy, một người bạn nói với người kia: “Nhiều vải gai được quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với cây gai hoặc với dây gai. Vậy Bạn hãy quăng bỏ bao cây gai, và tôi sẽ quăng bỏ bao dây gai. Hai chúng ta sẽ mang bao vải gai này mà đi.” - “Này Bạn, tôi đem đóng dây gai này từ xa lại và đống gai được buộc bó kỹ lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ. Bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bỏ dây gai và lấy bó gải gai.

Rồi họ đến một con đường khác. Ở đây họ thấy nhiều sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều dây sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vải sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều cây bông được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vải bông được quăng bỏ… Sau khi thấy… nhiều sắt được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều đồng được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều thiếc được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều chì được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều bạc được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vàng được quăng bỏ. Thấy vậy một người bạn nói với người bạn kia: “Nhiều vàng được quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với cây gai hay với dây gai, hay với vải sồ ma, hay với cây bông, hay với vải bông, hay với sắt, hay với đồng, hay với thiếc, hay với chì, hay với bạc. Vậy bạn hãy quăng bỏ bao cây gai, và tôi sẽ quăng bỏ bao bạc. Hai chúng ta sẽ mang bao vàng mà đi.” - “Này ban, tôi đem bao cây gai này từ xa lại, và đống gai được bó buộc ký lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ. Bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bao bạc và lấy bao vàng.

Cả hai về đến làng của mình. Người bạn đem bao cây gai về, cha mẹ người ấy không được vui vẻ, vợ con người ấy không được vui, bạn bè người ấy không được vui vẻ, và do vậy anh ta không được hạnh phúc, hoan hỷ. Còn người bạn đem bao vàng về, cha mẹ người ấy được vui vẻ, vợ con người ấy được vui vẻ, bạn bè người ấy được vui vẻ và do vậy người ấy được hạnh phúc hoan hỷ.

Cũng vậy Tôn chủ, Ngài nói không khác gì ví dụ người mang bao cây gai. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

3. Quy y (Saraṇagamana)

"Ngay từ ví dụ đầu tiên, tôi đã hài lòng và hoan hỷ với Tôn giả Kassapa. Nhưng tôi muốn nghe những câu trả lời sắc bén, đa dạng này nên tôi mới nghĩ đến việc phản bác Tôn giả Kassapa. Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kassapa! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kassapa! Giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che khuất, chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn sáng đi vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình ảnh; cũng vậy, Quy luật đã được Tôn giả Kassapa làm sáng tỏ qua nhiều phương pháp. Thưa Tôn giả Kassapa, tôi xin nương tựa vào Tôn giả Gotama, nương tựa vào Quy luật, và nương tựa vào hội chúng tỳ kheo. Xin Tôn giả Kassapa hãy nhận tôi làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.

Và thưa Tôn giả Kassapa, tôi muốn tổ chức một cuộc tế lễ lớn, xin Tôn giả Kassapa hãy hướng dẫn tôi, để điều đó mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi."

30. - Với ví dụ đầu tiên của Tôn giả Kassapa tôi đã hoan hỷ, thỏa mãn, nhưng tôi muốn nghe những câu hỏi đáp thông minh ấy vì tôi xem Tôn giả Kassapa như người đáng được đối lập. Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Kassapa! Thật hy hữu thay, Tôn giả Kassapa! Tôn giả Kassapa, như một người giơ ra vật gì bị che kín, hay như người hướng dẫn cho kẻ bị lạc đường, hay như người đem đèn vào trong bóng tối cho người có mắt được thấy sắc, cũng vậy Chánh pháp được Tôn giả Kassapa dùng nhiều phương tiện trình bày. Tôn giả Kassapa, nay con quy y Thế Tôn Gotama, quy ý Pháp, quy y chúng Tỷ kheo Tăng, Tôn giả Kassapa, hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến trọn đời xin nhận Ngài làm chỗ y chỉ. Tôn giả Kassapa, con muốn tổ chức một đại lễ tế đàn. Tôn giả Kassapa hãy giảng dạy cho con để con được hưởng hạnh phúc an lạc lâu dài.

4. Bàn về tế lễ (Yaññakathā)

"Này vương tử, trong những cuộc tế lễ nào mà bò bị giết, dê cừu bị giết, gà lợn bị giết, hay nhiều sinh vật khác bị sát hại, và những người nhận lễ vật là những người có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi), suy nghĩ sai (tà tư duy / micchāsaṅkappa), lời nói sai (tà ngữ / micchāvācā), hành động sai (tà nghiệp / micchākammanta), đời sống sai (tà mạng / micchāājīva), nỗ lực sai (tà tinh tấn / micchāvāyāma), sự thấy không quên sai (tà niệm / micchāsati), định sai (tà định / micchāsamādhi); thì cuộc tế lễ như vậy, này vương tử, không mang lại kết quả lớn, không mang lại lợi ích lớn, không mang lại ánh sáng lớn, không mang lại sự lan tỏa lớn.

Giả sử, này vương tử, một người nông dân mang hạt giống và cày đi vào rừng. Người đó gieo những hạt giống bị vỡ, bị thối, bị gió nắng làm hỏng, không có lõi, gieo không đúng cách vào một thửa ruộng tồi tàn, đất đai cằn cỗi, chưa được dọn sạch gốc cây và gai góc. Và trời không mưa đúng lúc, không cung cấp đủ nước. Liệu những hạt giống đó có thể nảy mầm, lớn lên và phát triển mạnh mẽ không, và người nông dân có thu được kết quả dồi dào không?"

“Thưa Tôn giả Kassapa, không.”

"Cũng vậy, này vương tử, trong những cuộc tế lễ nào mà bò bị giết, dê cừu bị giết, gà lợn bị giết, hay nhiều sinh vật khác bị sát hại, và những người nhận lễ vật là những người có quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, hành động sai, đời sống sai, nỗ lực sai, sự thấy không quên sai, định sai; thì cuộc tế lễ như vậy, này vương tử, không mang lại kết quả lớn, không mang lại lợi ích lớn, không mang lại ánh sáng lớn, không mang lại sự lan tỏa lớn.

Nhưng này vương tử, trong những cuộc tế lễ nào mà bò không bị giết, dê cừu không bị giết, gà lợn không bị giết, hay nhiều sinh vật khác không bị sát hại, và những người nhận lễ vật là những người có Nhìn Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappa), Lời Nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā), Hành Động Thiện (chánh nghiệp / sammākammanta), Đời Sống Thiện (chánh mạng / sammāājīva), Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāma), Sự Thấy không quên Thiện (chánh niệm / sammāsati), Định thiện (chánh định / sammāsamādhi); thì cuộc tế lễ như vậy, này vương tử, mang lại kết quả lớn, mang lại lợi ích lớn, mang lại ánh sáng lớn, mang lại sự lan tỏa lớn.

Giả sử, này vương tử, một người nông dân mang hạt giống và cày đi vào rừng. Người đó gieo những hạt giống không bị vỡ, không bị thối, không bị gió nắng làm hỏng, có lõi, gieo đúng cách vào một thửa ruộng tốt, đất đai màu mỡ, đã được dọn sạch gốc cây và gai góc. Và trời mưa đúng lúc, cung cấp đủ nước. Liệu những hạt giống đó có thể nảy mầm, lớn lên và phát triển mạnh mẽ không, và người nông dân có thu được kết quả dồi dào không?"

“Thưa Tôn giả Kassapa, có.”

“Cũng vậy, này vương tử, trong những cuộc tế lễ nào mà bò không bị giết, dê cừu không bị giết, gà lợn không bị giết, hay nhiều sinh vật khác không bị sát hại, và những người nhận lễ vật là những người có Nhìn Thấy Thiện, Suy Nghĩ Thiện, Lời Nói Thiện, Hành Động Thiện, Đời Sống Thiện, Nỗ lực Thiện, Sự Thấy không quên Thiện, Định thiện; thì cuộc tế lễ như vậy, này vương tử, mang lại kết quả lớn, mang lại lợi ích lớn, mang lại ánh sáng lớn, mang lại sự lan tỏa lớn.”

31. - Này Tôn chủ, tại tế đàn có trâu bò bị giết, hay các loại sinh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, này Tôn chủ, tế đàn ấy không đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, không được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, cũng như người làm ruộng đi vào rừng đem theo hột giống và cày. Và trên một khoảng đất không cày bừa, không có màu mỡ, giữa những gốc cây chưa được đào lên, người ấy gieo những hột giống xuống, những hột giống ấy bị hư sứt, bị thúi mục, bị gió và sức nóng phá hại, trái mùa, không có điều kiện thuận tiện, và thần mưa không cho mưa đúng thời. Vậy các hột giống ấy có thể lớn lên, trưởng thành lên và sum sê hoa lá lên hoặc người làm ruộng ấy gặt hái được nhiều kết quả không?

− Tôn giả Kassapa, không thể được.

− Cũng vậy, này Tôn giả, tại tế đàn nào có trâu bò bị giết hay các loại dê bị giết, hay gà và heo bị giết, hay các loại sinh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Này Tôn chủ, tế đàn ấy không đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, không được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, tại tế đàn nào không có trâu bò bị giết, không có các loại dê bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sanh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; này Tôn chủ, tế đàn ấy đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, cũng như một người làm ruộng đi vào rừng đem theo hột giống và cày. Và trên một khoảng đất có cày bừa, có màu mỡ, giữa những gốc cây đã được đào lên, người ấy gieo những hột giống xuống, những hột giống ấy không bị hư sứt, không bị thúi mục, không bị gió và sức nóng phá hại, thuận mùa, có điều kiện thuận lợi và thần mưa cho mưa đúng thời. Vậy các hột giống ấy có thể lớn lên, trưởng thành lên, sum sê hoa lá, hoặc người làm ruộng ấy gặt hái được nhiều kết quả không?

− Tôn giả Kassapa, thật được như vậy.

− Cũng vậy, này Tôn chủ, tại tế đàn nào mà không có trâu bò bị giết, không có các loại dê bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sanh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; này Tôn chủ, tế đàn ấy đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, được quảng bá rộng lớn.

5. Câu chuyện về thanh niên Uttara (Uttaramāṇavavatthu)

Sau đó, vương tử Pāyāsi thiết lập việc bố thí cho các sa-môn, bà-la-môn, người nghèo khổ, người lang thang, người ăn xin và người cầu xin. Nhưng trong việc bố thí đó, thức ăn được phân phát là cơm tấm với nước chua, và y phục là những tấm vải thô dệt bằng lông đuôi ngựa. Trong việc bố thí đó, có một thanh niên tên là Uttara làm người quản lý.

Sau khi phân phát đồ bố thí, người đó hồi hướng như sau: “Bằng việc bố thí này, mong tôi chỉ gặp vương tử Pāyāsi ở thế giới này, đừng gặp ở thế giới khác.”

Vương tử Pāyāsi nghe nói: “Thanh niên Uttara sau khi phân phát đồ bố thí đã hồi hướng như sau: ‘Bằng việc bố thí này, mong tôi chỉ gặp vương tử Pāyāsi ở thế giới này, đừng gặp ở thế giới khác.’” Khi ấy, vương tử Pāyāsi gọi thanh niên Uttara đến và hỏi: “Này Uttara, có thật là sau khi phân phát đồ bố thí, ngươi đã hồi hướng như sau: ‘Bằng việc bố thí này, mong tôi chỉ gặp vương tử Pāyāsi ở thế giới này, đừng gặp ở thế giới khác’ không?”

“Thưa ngài, đúng vậy.”

“Nhưng tại sao, này Uttara, sau khi phân phát đồ bố thí, ngươi lại hồi hướng như sau: ‘Bằng việc bố thí này, mong tôi chỉ gặp vương tử Pāyāsi ở thế giới này, đừng gặp ở thế giới khác’? Này Uttara, chẳng phải chúng ta là những người mong muốn điều tốt lành, mong đợi kết quả của việc bố thí sao?”

“Thưa ngài, trong việc bố thí của ngài, thức ăn được phân phát là cơm tấm với nước chua, thứ mà ngài thậm chí không muốn chạm chân vào, huống hồ là ăn; và y phục là những tấm vải thô dệt bằng lông đuôi ngựa, thứ mà ngài thậm chí không muốn chạm chân vào, huống hồ là mặc. Ngài là người thân yêu, đáng mến của chúng tôi, làm sao chúng tôi có thể kết nối người đáng mến với những thứ không đáng mến được?”

“Nếu vậy, này Uttara, ta ăn thức ăn như thế nào, ngươi hãy chuẩn bị thức ăn như thế ấy. Ta mặc y phục như thế nào, ngươi hãy chuẩn bị y phục như thế ấy.”

“Vâng, thưa ngài,” thanh niên Uttara đáp lời vương tử Pāyāsi, rồi chuẩn bị thức ăn giống như vương tử Pāyāsi ăn. Và chuẩn bị y phục giống như vương tử Pāyāsi mặc.

Khi ấy, vương tử Pāyāsi vì bố thí không cung kính, bố thí không tự tay làm, bố thí không tôn trọng, bố thí như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, ông tái sinh vào cõi chư thiên Cātumahārājika (Tứ Thiên Vương), tại lâu đài cõi trời (thiên cung / vimāna) Serīsaka trống rỗng [BT]. Còn thanh niên Uttara, người quản lý việc bố thí của ông, vì bố thí cung kính, bố thí tự tay làm, bố thí tôn trọng, bố thí không như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người đó tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa.

32. Rồi Tôn chủ Pàyàsi tổ chức bố thí cho các vị Sa môn, Bà -la-môn, cho những người nghèo, những người vô gia cư, những người ăn mày. Trong cuộc bố thí này, các món ăn như thế này được đem cho như cháo, đồ ăn phế thải, vải thô với những viền bằng hình tròn. Trong cuộc bố thí này, có vị thanh niên tên Uttàra bị bỏ qua. Sau khi cuộc bố thí đã xong, vị nầy nói ngạo như sau: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau.” Tôn chủ Pàyàssi nghe thanh niên Uttàra sau khi cuộc bố thí đã xong, có nói ngạo: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau,” liền cho mời thanh niên Uttàra và nói:

− Này Thân hữu Uttàra, có thật chăng, sau khi cuộc bố thí đã xong, Ngươi có nói ngạo: “Với cuộc bố thí này, ta gặp được Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau”?

− Thật có vậy, này Tôn chủ!

− Này Thân hữu Uttàra, tại sao, sau cuộc bố thí Ngươi lại nói ngạo như vậy: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhừng không gặp trong đời sau.”? Này Thân hữu Uttàra, có phải chúng ta đi tìm công đức đều trông mong kết quả của cuộc bố thí?

− Này Tôn chủ, trong cuộc bố thí của Ngài, các món ăn như thế này được đem cho như cháo, đồ ăn phế thải, các món ăn này được Ngài không muốn lấy bàn chân của Ngài đụng đến, huống nữa là ăn; vải thô với những nền bằng hình tròn, các thứ vải này Ngài không muốn lấy bàn chân của Ngài đụng đến, huống nữa là mặc. Tôn chủ, Ngài là người thân và kính mến của chúng tôi. Như thế nào, chúng tôi có thể phối hợp cái gì thân yêu và kính mến với cái gì không thân yêu?

− Vậy này Thân hữu Uttàra, hãy phân phát các món ăn giống như các món tôi ăn, hãy phân phát các vải mặc, giống như các thứ vải mà tôi mặc. − Xin vâng, Tôn chủ!

Thanh niên Uttàra vâng theo lời Tôn chủ Pàyàsi, đem phân phát những món ăn giống như các món tôn chủ Pàyàsi ăn, đem phân phát các thứ vải, giống như các thứ vải tôn chủ Pàyàsi mặc.

Tôn chủ Pàyàsi vì đã bố thí không được cho hoàn vị, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ vật phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên.

6. Thiên tử Pāyāsi (Pāyāsidevaputta)

Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Gavampati thường xuyên đi đến lâu đài cõi trời Serīsaka trống rỗng để nghỉ trưa. Khi ấy, thiên tử Pāyāsi đi đến chỗ Tôn giả Gavampati; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Gavampati rồi đứng một bên. Tôn giả Gavampati hỏi thiên tử Pāyāsi đang đứng một bên: “Này bạn, bạn là ai?”

“Thưa Tôn giả, tôi là vương tử Pāyāsi.”

“Này bạn, chẳng phải bạn đã từng có quan điểm như sau: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu’ sao?”

“Thưa Tôn giả, đúng là tôi đã từng có quan điểm như sau: ‘Như thế này: không có thế giới khác, không có chúng sinh sinh ra tự nhiên, không có kết quả hay sự chín muồi của những hành động tốt và xấu.’ Nhưng tôi đã được Tôn giả Kumārakassapa tách ra khỏi quan điểm sai tồi tệ đó.”

“Còn thanh niên Uttara, người quản lý việc bố thí của bạn, người đó đã tái sinh ở đâu?”

"Thưa Tôn giả, thanh niên Uttara, người quản lý việc bố thí của tôi, vì bố thí cung kính, bố thí tự tay làm, bố thí tôn trọng, bố thí không như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, người đó đã tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Còn tôi, thưa Tôn giả, vì bố thí không cung kính, bố thí không tự tay làm, bố thí không tôn trọng, bố thí như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, tôi tái sinh vào cõi chư thiên Cātumahārājika, tại lâu đài cõi trời Serīsaka trống rỗng này.

Vậy nên, thưa Tôn giả Gavampati, xin ngài hãy trở về thế giới loài người và thông báo như sau: ‘Hãy bố thí cung kính, hãy bố thí tự tay làm, hãy bố thí tôn trọng, hãy bố thí không như vứt bỏ. Vương tử Pāyāsi vì bố thí không cung kính, bố thí không tự tay làm, bố thí không tôn trọng, bố thí như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi chư thiên Cātumahārājika, tại lâu đài cõi trời Serīsaka trống rỗng. Còn thanh niên Uttara, người quản lý việc bố thí của ông, vì bố thí cung kính, bố thí tự tay làm, bố thí tôn trọng, bố thí không như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa.’"

Sau đó, Tôn giả Gavampati trở về thế giới loài người và thông báo như sau: “Hãy bố thí cung kính, hãy bố thí tự tay làm, hãy bố thí tôn trọng, hãy bố thí không như vứt bỏ. Vương tử Pāyāsi vì bố thí không cung kính, bố thí không tự tay làm, bố thí không tôn trọng, bố thí như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi chư thiên Cātumahārājika, tại lâu đài cõi trời Serīsaka trống rỗng. Còn thanh niên Uttara, người quản lý việc bố thí của ông, vì bố thí cung kính, bố thí tự tay làm, bố thí tôn trọng, bố thí không như vứt bỏ, nên sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, đã tái sinh vào cõi tốt đẹp, thế giới cõi trời, cùng chung sống với chư thiên cõi Tāvatiṁsa.”

Kết thúc Kinh Pāyāsi, bài kinh thứ mười.

Kết thúc Phẩm Lớn (Mahāvaggo).

Tóm tắt phẩm này:

Mahāpadāna, Nidāna, và Nibbāna, Sudassana; Janavasabha, Govinda, Samaya, Sakkapañhaka; Mahāsatipaṭṭhāna, và Pāyāsi là bài thứ mười.

Kết thúc Phẩm Lớn (Mahāvaggapāḷi).

33. Lúc bấy giờ tôn giả Gavampati (Ngưu Chủ) thường hay đi nghỉ trưa trong cung điện trống không của Serisaka. Nay Thiên tử Pàyàssi đi đón tôn giả Gavampati, đảnh lễ ngài, và đứng một bên. Tôn giả Gavampati nói với Thiên tử Pàyàsi đang đứng một bên:

− Bạch Tôn giả, con là tôn chủ Pàyàsi.

− Này Hiền giả, có phải Ngươi có tà kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Bạch Tôn giả, con có tà kiến như vậy: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiên ác không có quả báo”, nhưng nhờ tôn giả Kumàra Kassapa, con tự thoát ly ra khỏi ác tà kiến ấy.

− Này Hiền giả, còn thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, được thác sanh ở đâu?

− Bạch Tôn giả, thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thì này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Còn con, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serasaka. Do vậy, bạch Tôn giả Gavampati, hãy đi đến thế giới loài Người và nói như sau: “Hãy bố thí một cách hoàn bị, hãy bố thí với tự tay mình làm, hãy bố thí một cách có suy tư, hãy bố thí với đồ không phế thải. Tôn chủ Pàyàsi, vì bố thí không hoàn bị, vì bố thí không tự tay mình làm, vì bố thí không có suy tư, vì bố thí các đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra, bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, vĩ đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì bố thí một cách có suy tư, vì bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên”.

34. Rồi Tôn giả Gavampati đi vào trong thế giới loài Người và nói như sau: “Hãy bố thí một cách hoàn bị. Hãy bố thí với tự tay mình làm. Hãy bố thí một cách có suy tư. Hãy bố thí các đồ không phế thải. Tôn chủ Pàyàsi, vì bố thí không hoàn bị, vì bố thí không tự tay mình làm, vì bố thí không có suy tư, vì bố thí đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra, bị bỏ qua trong một cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách có hoàn bị, vì đã bố thí với tự tay mình làm, vì đã bố thí một cách suy tư, vì đã bố thí với các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên”.

-ooOoo-