Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 24. KINH PĀTHIKA

(Pāthikasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về Sunakkhatta (Sunakkhattavatthu)

Tôi đã nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú ở xứ Malla, tại một thị trấn của người Malla tên là Anupiya. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, mặc y, mang bát, đi vào Anupiya để khất thực. Rồi Thế Tôn khởi lên suy nghĩ: “Bây giờ đi khất thực ở Anupiya thì còn quá sớm. Hay là ta hãy đi đến khu vườn của du sĩ Bhaggavagotta, đi đến chỗ du sĩ Bhaggavagotta.”

Rồi Thế Tôn đi đến khu vườn của du sĩ Bhaggavagotta, đi đến chỗ du sĩ Bhaggavagotta. Rồi du sĩ Bhaggavagotta nói với Thế Tôn điều này: “Kính thưa Thế Tôn, xin mời đến. Chào mừng Thế Tôn. Đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Kính thưa Thế Tôn, xin hãy ngồi, chỗ ngồi này đã được dọn sẵn.”

Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã dọn sẵn. Du sĩ Bhaggavagotta cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggavagotta nói với Thế Tôn điều này: “Kính thưa Thế Tôn, vài ngày trước đây, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã đi đến chỗ tôi; sau khi đến, người ấy nói với tôi điều này: ‘Này Bhaggava, nay tôi đã từ bỏ Thế Tôn. Nay tôi không còn sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn nữa.’ Kính thưa Thế Tôn, sự việc có đúng như Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã nói không?”

"Này Bhaggava, sự việc đúng như Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã nói.

Này Bhaggava, vài ngày trước đây, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi nói với Ta điều này: ‘Kính thưa Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Nay con sẽ không sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn nữa.’

Khi được nói như vậy, này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Này Sunakkhatta, có bao giờ Ta nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta” không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Hay là ngươi đã nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn”?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Này Sunakkhatta, nếu Ta không hề nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta”, và ngươi cũng không hề nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn”. Đã là như vậy, hỡi kẻ rỗng tuếch (moghapurisa), ngươi là ai mà lại đi từ bỏ ai? Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.’

‘Nhưng kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người (uttari manussadhammā iddhipāṭihāriya).’

‘Này Sunakkhatta, có bao giờ Ta nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta, Ta sẽ thực hiện cho ngươi những phép lạ vượt quá khả năng con người” không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Hay là ngươi đã nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, Thế Tôn sẽ thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người”?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Này Sunakkhatta, nếu Ta không hề nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta, Ta sẽ thực hiện cho ngươi những phép lạ vượt quá khả năng con người”, và ngươi cũng không hề nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, Thế Tôn sẽ thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người”. Đã là như vậy, hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi là ai mà lại đi từ bỏ ai? Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, dù có thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người hay không thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người, mục đích mà Ta giảng dạy Điều dạy (pháp / dhamma) là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ (khổ diệt / dukkhakkhaya) một cách trọn vẹn, điều đó có đúng không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, dù có thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người hay không thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người, mục đích mà Thế Tôn giảng dạy Điều dạy là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.’

‘Này Sunakkhatta, như vậy, dù có thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người hay không thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người, mục đích mà Ta giảng dạy Điều dạy là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn. Trong trường hợp đó, này Sunakkhatta, việc thực hiện những phép lạ vượt quá khả năng con người thì có ích lợi gì? Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.’

‘Nhưng kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn không tuyên bố cho con biết về nguồn gốc thế giới (aggañña).’

‘Này Sunakkhatta, có bao giờ Ta nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta, Ta sẽ tuyên bố cho ngươi biết về nguồn gốc thế giới” không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Hay là ngươi đã nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, Thế Tôn sẽ tuyên bố cho con biết về nguồn gốc thế giới”?’

‘Kính thưa Thế Tôn, không.’

‘Này Sunakkhatta, nếu Ta không hề nói với ngươi rằng: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta, Ta sẽ tuyên bố cho ngươi biết về nguồn gốc thế giới”, và ngươi cũng không hề nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, Thế Tôn sẽ tuyên bố cho con biết về nguồn gốc thế giới”. Đã là như vậy, hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi là ai mà lại đi từ bỏ ai? Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, dù có tuyên bố về nguồn gốc thế giới hay không tuyên bố về nguồn gốc thế giới, mục đích mà Ta giảng dạy Điều dạy là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn, điều đó có đúng không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, dù có tuyên bố về nguồn gốc thế giới hay không tuyên bố về nguồn gốc thế giới, mục đích mà Thế Tôn giảng dạy Điều dạy là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn.’

'Này Sunakkhatta, như vậy, dù có tuyên bố về nguồn gốc thế giới hay không tuyên bố về nguồn gốc thế giới, mục đích mà Ta giảng dạy Điều dạy là để dẫn dắt người thực hành đi đến sự chấm dứt đau khổ một cách trọn vẹn. Trong trường hợp đó, này Sunakkhatta, việc tuyên bố về nguồn gốc thế giới thì có ích lợi gì? Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.

Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Ta tại các ngôi làng của người Vajji rằng: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.” Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Ta tại các ngôi làng của người Vajji như vậy.

Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Điều dạy tại các ngôi làng của người Vajji rằng: “Điều dạy được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu.” Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Điều dạy tại các ngôi làng của người Vajji như vậy.

Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Tăng đoàn tại các ngôi làng của người Vajji rằng: “Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những vị thực hành tốt đẹp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những vị thực hành chân trực, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những vị thực hành đúng phương pháp, Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn là những vị thực hành chân chính, tức là bốn đôi tám chúng, đó là Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.” Này Sunakkhatta, bằng nhiều cách khác nhau, ngươi đã ca ngợi Tăng đoàn tại các ngôi làng của người Vajji như vậy.

Này Sunakkhatta, Ta nói cho ngươi biết, Ta thông báo cho ngươi biết. Này Sunakkhatta, sẽ có những người nói về ngươi rằng: “Sunakkhatta con trai dòng Licchavi không thể sống nổi đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Gotama, vì không thể sống nổi nên đã từ bỏ việc rèn luyện và quay trở lại đời sống thấp kém.” Này Sunakkhatta, sẽ có những người nói về ngươi như vậy.’

Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vẫn rời bỏ Điều dạy và Luật này, như một kẻ rơi vào cõi khổ, rơi vào địa ngục.

24. KINH BA-LÊ

(Pàtika Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa bộ lạc Malla (Mạt-la), tại Anupiya (A-dật-di), một thành của bộ lạc Mallà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Anupiya để khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Thật là quá sớm để vào thành Anupiya khất thực. Ta hãy đến tịnh xá của du sĩ Bhaggava và thăm vị này.” Thế Tôn liền đi đến tịnh xá du sĩ Bhaggava.

2. Rồi du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn:

− Thế Tôn hãy đến gần! Xin chào đón Thế Tôn. Ðã lâu, Thế Tôn mới có dịp đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và du sĩ Bhaggava lấy một ghế ngồi khác thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, ngày xưa và nhiều ngày xưa nữa, Sunakkhatta (Thiện Tịnh) thuộc bộ lạc Licchavi (Lyxa tử) đến con và nói như sau: “Này Bhaggava, nay tôi từ bỏ Thế Tôn! Nay tôi không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.” Bạch Thế Tôn, sự việc có phải như Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi nói hay không?

− Này Bhaggava, sự việc thật như Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đã nói.

3. Này Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta. Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sumakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.”

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:

“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ dẫn của Ta” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Hay Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Này Sunakkhatta, Ta không nói: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta”, và Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn”. Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!

4. “- Bạch Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông. “- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Này Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn chủ Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông; Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?

“- Bạch Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.

“- Này Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!

5. “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.

“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của Thế giới” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Này Sunakkhatta, Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới” chăng?

“- Bạch Thế Tôn, không!

“- Này Sunakkhatta, như vậy Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của thế giới.” Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.” Này kẻ ngu kia, sự kiện là như vậy, thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?

“- Bạch Thế Tôn, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy. “- Này Sunakkhatta, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích của Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời giải thích về khởi nguyên thế giới có ích lợi gì cho Ngươi? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!

6. “- Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajji: “Như vậy, Thế Tôn là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajji.

“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi nói lời tán thán Pháp tại làng Vajji: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người có trí mới thâm hiểu.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Chánh pháp tại làng Vajji.

“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi đã tán thán Tăng tại làng Vajji: “Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh chơn, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh trực, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Khuôn phép, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng được kính trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay cúi chào, vì là phước điền tối thượng ở đời”. Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Tăng tại làng Vajji.

“Này Sunakkhatta, Ta nói cho Ngươi biết; này Sunakkhatta ta tin cho Ngươi biết; sẽ có lời luận bàn về Ngươi như sau: “Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi không thể sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Vì không kham nổi, nên từ bỏ tu học trở về với đời sống thấp kém”. Này Sunakkhatta, sẽ có lời luận bàn về Ngươi như vậy.

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rớt vào đọa xứ, địa ngục.

2. Câu chuyện về Korakkhattiya (Korakkhattiyavatthu)

Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Thūlū, tại một thị trấn của người Thūlū tên là Uttaraka. Rồi này Bhaggava, vào buổi sáng, Ta mặc y, mang bát, cùng với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi làm thị giả đi theo sau, đi vào Uttaraka để khất thực. Lúc bấy giờ, tu sĩ lõa thể (acela) Korakkhattiya đang thực hành hạnh con chó (kukkuravatika), bò bằng bốn chân, ăn thức ăn rơi vãi trên mặt đất chỉ bằng miệng, nhai chỉ bằng miệng.

Này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi nhìn thấy tu sĩ lõa thể Korakkhattiya đang thực hành hạnh con chó, bò bằng bốn chân, ăn thức ăn rơi vãi trên mặt đất chỉ bằng miệng, nhai chỉ bằng miệng. Thấy vậy, người ấy khởi lên suy nghĩ: ‘Vị tu sĩ này quả thật là một bậc thiện nhân, bò bằng bốn chân, ăn thức ăn rơi vãi trên mặt đất chỉ bằng miệng, nhai chỉ bằng miệng.’

Rồi này Bhaggava, Ta dùng tâm thấu hiểu tâm (cetasā ceto paricca vidito) của Sunakkhatta con trai dòng Licchavi, Ta nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự xưng là một tu sĩ Thích tử sao?’

‘Kính thưa Thế Tôn, tại sao Thế Tôn lại nói với con rằng: “Hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự xưng là một tu sĩ Thích tử sao?”’

‘Này Sunakkhatta, có phải khi ngươi nhìn thấy tu sĩ lõa thể Korakkhattiya đang thực hành hạnh con chó, bò bằng bốn chân, ăn thức ăn rơi vãi trên mặt đất chỉ bằng miệng, nhai chỉ bằng miệng, ngươi đã khởi lên suy nghĩ: “Vị tu sĩ này quả thật là một bậc thiện nhân, bò bằng bốn chân, ăn thức ăn rơi vãi trên mặt đất chỉ bằng miệng, nhai chỉ bằng miệng” không?’

‘Thưa vâng, kính thưa Thế Tôn. Nhưng kính thưa Thế Tôn, có phải Thế Tôn đang ghen tị với sự giác ngộ của người khác không?’

'Hỡi kẻ rỗng tuếch, Ta không ghen tị với sự giác ngộ của người khác. Nhưng chính ngươi đã khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ (pāpakaṁ diṭṭhigataṁ), hãy từ bỏ (pajaha) nó đi. Đừng để nó mang lại bất lợi và đau khổ lâu dài cho ngươi.

Này Sunakkhatta, người mà ngươi nghĩ là: “Tu sĩ lõa thể Korakkhattiya này là một bậc thiện nhân”, người đó vào ngày thứ bảy sẽ qua đời vì bệnh khó tiêu. Sau khi qua đời, người đó sẽ tái sinh vào nhóm Asura tên là Kālakañcikā, nhóm thấp kém nhất trong các loài Asura. Sau khi qua đời, người ta sẽ vứt xác người đó ở nghĩa địa có nhiều cỏ Bīraṇa. Này Sunakkhatta, nếu muốn, ngươi hãy đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Korakkhattiya và hỏi: “Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết nơi mình tái sinh không?” Này Sunakkhatta, có khả năng tu sĩ lõa thể Korakkhattiya sẽ trả lời ngươi rằng: “Này bạn Sunakkhatta, tôi biết nơi mình tái sinh; tôi đã tái sinh vào nhóm Asura tên là Kālakañcikā, nhóm thấp kém nhất trong các loài Asura”.’

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Korakkhattiya; sau khi đến, nói với tu sĩ lõa thể Korakkhattiya điều này: ‘Này bạn Korakkhattiya, Sa-môn Gotama đã tiên đoán về bạn rằng: “Tu sĩ lõa thể Korakkhattiya vào ngày thứ bảy sẽ qua đời vì bệnh khó tiêu. Sau khi qua đời, người đó sẽ tái sinh vào nhóm Asura tên là Kālakañcikā, nhóm thấp kém nhất trong các loài Asura. Sau khi qua đời, người ta sẽ vứt xác người đó ở nghĩa địa có nhiều cỏ Bīraṇa.” Do đó, này bạn Korakkhattiya, bạn hãy ăn thức ăn thật chừng mực, uống nước thật chừng mực. Để cho lời nói của Sa-môn Gotama trở thành sai sự thật.’

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày đêm, vì không tin tưởng Như Lai. Rồi này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Korakkhattiya vào ngày thứ bảy đã qua đời vì bệnh khó tiêu. Sau khi qua đời, người đó tái sinh vào nhóm Asura tên là Kālakañcikā, nhóm thấp kém nhất trong các loài Asura. Sau khi qua đời, người ta vứt xác người đó ở nghĩa địa có nhiều cỏ Bīraṇa.

Này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi nghe tin: ‘Tu sĩ lõa thể Korakkhattiya đã qua đời vì bệnh khó tiêu và bị vứt xác ở nghĩa địa có nhiều cỏ Bīraṇa.’ Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến nghĩa địa có nhiều cỏ Bīraṇa, đi đến chỗ [xác của] tu sĩ lõa thể Korakkhattiya; sau khi đến, lấy tay vỗ vào [xác của] tu sĩ lõa thể Korakkhattiya ba lần và hỏi: ‘Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết nơi mình tái sinh không?’

Rồi này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy. ‘Này bạn Sunakkhatta, tôi biết nơi mình tái sinh. Tôi đã tái sinh vào nhóm Asura tên là Kālakañcikā, nhóm thấp kém nhất trong các loài Asura’, nói xong, người đó ngã ngửa ra ngay tại chỗ.

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, những gì Ta đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Korakkhattiya, kết quả có đúng như vậy không, hay là khác đi?’

‘Kính thưa Thế Tôn, những gì Thế Tôn đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Korakkhattiya, kết quả đúng như vậy, không khác đi.’

‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện hay chưa được thực hiện?’

‘Kính thưa Thế Tôn, chắc chắn nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện, không phải là chưa được thực hiện.’

‘Hỡi kẻ rỗng tuếch, Ta thực hiện phép lạ vượt quá khả năng con người như vậy mà ngươi lại nói với Ta rằng: “Nhưng kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người”. Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.’ Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vẫn rời bỏ Điều dạy và Luật này, như một kẻ rơi vào cõi khổ, rơi vào địa ngục.

7. Này Bhaggava, một thời Ta ở bộ lạc Bumu, tại thị trấn của bộ lạc Bumu tên là Uttaraka. Này Bhaggava, rồi buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát cùng với Sa di Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi theo sau, vào thị trấn Uttaraka khất thực. Lúc bấy giờ, lõa thể Korakkhattiya, tu theo hạnh chó đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.

Này Bahaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.

Này Bhaggava, Ta biết được tâm tư của Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi với tâm tư của Ta cà Ta nói với ông ta như sau:

“- Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích Tử không?

“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói: “Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi tự nhân Ngươi là Thích Tử không”?

“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi, sau khi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, liền suy nghĩ: “Thật tốt đẹp thay vị A la hán Sa môn đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm”? “- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một bị A la hán?

“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán? Chính Ngươi tự sinh ác tà kiến ấy, hãy bỏ nó đi. Chớ để tự mình lâu ngày bị khổ đau thiệt hại. Này Sunakkhtta, lõa thể Korakkhattiya mà Ngươi nghĩ là tốt đẹp, là vị Sa môn, sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, nó sẽ bị quăng trong nghĩa địa đặt trên đống cỏ Bìrana. Này Sunakkhatta, nếu Ngưới muốn, hãy đến hỏi lõa thể Korakkhattiya như sau: “Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết bạn thác sanh cảnh giới nào không?” Này Sunakkhatta, sự kiện này có thể xảy ra, lõa thể Korakkhatta ấy có thể trả lời với Ngươi: “Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi sẽ thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất”.

8. Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, đi đến lõa thể Korakkhattiya và nói:

− Này bạn Korakkhattiya, Sa môn Gotama có nói như sau: “Lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta sẽ bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Birana”. Này Bạn Korakkhattiya, vậy Bạn hãy ăn cho có tiết độ, vậy Bạn hãy uống cho có tiết độ, để lời nói của Sa môn Gotama trở thành nói láo.”

Này Bhaggava, vì không tin tưởng Như Lai, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày. Nhưng này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày bị trúng thực mà chết. Sau khi chết, bị tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Birana.

9. Này Bhaggava, Sunakkhatta được nghe: “Lõa thể Korakkhattiya bị trúng thực chết, quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bìrana.” Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi liền đi đến đống cỏ Bìrana tại nghĩa địa, đến lõa thể Korakkhattiya, lấy tay đánh ba lần và hỏi:

“- Này bạn Korakkhattiya, Bạn có biết cảnh giới thác sanh của Bạn không?”

Này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy:

“- Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất.” Sau khi nói xong, ông ta ngã ngửa xuống.

10. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Korakkhattiya, có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?

“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Korakkhattiya như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác!

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện có phải không?

“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.

“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!”

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.

3. Câu chuyện về tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka (Acelakaḷāramaṭṭakavatthu)

Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesālī, tại Sảnh đường Nóc nhọn trong Đại Lâm. Lúc bấy giờ, tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đang sống ở Vesālī, đạt được lợi lộc tối đa và danh tiếng tối đa tại các ngôi làng của người Vajji. Người đó đã thọ trì trọn vẹn bảy điều nguyện: ‘Cho đến trọn đời, tôi sẽ là người lõa thể, không mặc quần áo; cho đến trọn đời, tôi sẽ sống phạm hạnh, không hành dâm; cho đến trọn đời, tôi sẽ sống bằng rượu và thịt, không ăn cơm và cháo. Ở phía đông Vesālī có tháp Udena, tôi sẽ không đi quá nơi đó; ở phía nam Vesālī có tháp Gotamaka, tôi sẽ không đi quá nơi đó; ở phía tây Vesālī có tháp Sattamba, tôi sẽ không đi quá nơi đó; ở phía bắc Vesālī có tháp Bahuputta, tôi sẽ không đi quá nơi đó.’ Nhờ thọ trì bảy điều nguyện này, người đó đạt được lợi lộc tối đa và danh tiếng tối đa tại các ngôi làng của người Vajji.

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka; sau khi đến, hỏi tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka một câu hỏi. Bị hỏi, tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka không thể trả lời được. Vì không thể trả lời, người đó bộc lộ sự tức giận, thù hằn và bất mãn. Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi khởi lên suy nghĩ: ‘Chúng ta đã xúc phạm một vị tu sĩ quả thật là một bậc thiện nhân, một bậc A-la-hán. Đừng để điều này mang lại bất lợi và đau khổ lâu dài cho chúng ta.’

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự xưng là một tu sĩ Thích tử sao?’

‘Kính thưa Thế Tôn, tại sao Thế Tôn lại nói với con rằng: “Hỡi kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự xưng là một tu sĩ Thích tử sao?”’

‘Này Sunakkhatta, có phải ngươi đã đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka và hỏi một câu hỏi. Bị ngươi hỏi, tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka không thể trả lời được. Vì không thể trả lời, người đó bộc lộ sự tức giận, thù hằn và bất mãn. Và ngươi đã khởi lên suy nghĩ: “Chúng ta đã xúc phạm một vị tu sĩ quả thật là một bậc thiện nhân, một bậc A-la-hán. Đừng để điều này mang lại bất lợi và đau khổ lâu dài cho chúng ta” không?’

‘Thưa vâng, kính thưa Thế Tôn. Nhưng kính thưa Thế Tôn, có phải Thế Tôn đang ghen tị với sự giác ngộ của người khác không?’

'Hỡi kẻ rỗng tuếch, Ta không ghen tị với sự giác ngộ của người khác. Nhưng chính ngươi đã khởi lên một quan điểm sai lầm tồi tệ, hãy từ bỏ nó đi. Đừng để nó mang lại bất lợi và đau khổ lâu dài cho ngươi.

Này Sunakkhatta, người mà ngươi nghĩ là: “Tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka này là một bậc thiện nhân”, người đó chẳng bao lâu nữa sẽ mặc quần áo, có vợ đi theo, ăn cơm và cháo, đi vượt qua tất cả các tháp ở Vesālī, và sẽ qua đời trong sự mất hết danh tiếng.’

Rồi này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka chẳng bao lâu sau đã mặc quần áo, có vợ đi theo, ăn cơm và cháo, đi vượt qua tất cả các tháp ở Vesālī, và qua đời trong sự mất hết danh tiếng.

Này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi nghe tin: ‘Tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đã mặc quần áo, có vợ đi theo, ăn cơm và cháo, đi vượt qua tất cả các tháp ở Vesālī, và đã qua đời trong sự mất hết danh tiếng.’ Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, những gì Ta đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka, kết quả có đúng như vậy không, hay là khác đi?’

‘Kính thưa Thế Tôn, những gì Thế Tôn đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka, kết quả đúng như vậy, không khác đi.’

‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện hay chưa được thực hiện?’

‘Kính thưa Thế Tôn, chắc chắn nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện, không phải là chưa được thực hiện.’

‘Hỡi kẻ rỗng tuếch, Ta thực hiện phép lạ vượt quá khả năng con người như vậy mà ngươi lại nói với Ta rằng: “Nhưng kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người”. Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.’ Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vẫn rời bỏ Điều dạy và Luật này, như một kẻ rơi vào cõi khổ, rơi vào địa ngục.

11. Này Bhaggava, một thời, Ta trú tại Vesàli (Tỳ xá ly), rừng Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Kandaramasuka ở tại Vesàli được sự cúng dường tối thượng, được xưng danh tối thượng tại làng Vajji. Vị này có phát nguyện tuân theo bảy giới hạnh: “Trọn đời, ta theo hạnh lõa thể, không mặc quần áo; trọn đời, ta sống phạm hạnh, không có hành dâm; trọn đời ta tự nuôi sống với rượu và thịt, không phải với cháo cơm; ta không bao giờ đi quá tháp Udana phía Ðông thành Vesàli; ta không bao giờ đi quá tháp Gotamaka, phía Nam thành Vesàli; ta không bao giờ đi quá tháp Sattamba, phía Tây thành Vesà; ta không bao giờ đi quá tháp Bahuputta, phía Bắc thành Vesàli.” Vị này, nhờ tuân theo bảy giới hạnh này mà được sự cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng tại làng Vajji.

12. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi; lõa thể Kandaramasuka khi bị hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi, vì không theo dõi, nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi suy nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có gì xảy ra khiến chúng ta có thể bất lợi đau khổ lâu đời.”

13. Này Bhaggava, rồi Sunakkhata, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bahaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

“- Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?

“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: “Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?’

“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi đã đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi? Lõa thể Kandaramasuka khi được. Ngươi hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi; vì không theo dõi nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Rồi ngươi tự nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán, Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có có gì xảy ra khiến chúng có thể bất lợi đau khổ lâu đời!”.

“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một vị A la hán?

“- Này kẻ ngu kia, Ta đậu có ganh ghét với một vị A la hán! Chính Ngươi tự sanh ác tà kiến ấy, hãy từ bỏ nó đi. Chớ để mình lâu ngày bị thiệt hại đau khổ! Này Sunakkhatta, lõa thể Kandaramasuka mà Ngươi nghĩ là vị A la hán, là vị Sa môn tốt đẹp, không bao lâu sẽ sống mặc áo và lập gia đình, sẽ ăn cơm cháo, sẽ đi vượt quá các tháp ở Vesàli và sẽ chết mất hết cả danh xưng”.

Này Bhaggava, lõa thể Kandaramasuka, không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesàli và bị chết mất hất cả danh xưng.

14. Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi được nghe tin lõa thể Kandaramasuka không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesàli và bị chết mất hết danh xưng. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta đi đến chỗ Ta ở, sau khi đến đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, và Ta nói với Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Kandaramasuka có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?

“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Kandaramasuka như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác.

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, có phải không?

“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.

“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy rõ sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào”!

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhtta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ luật này, như người phải rơi vào đọa xứ địa ngục.

4. Câu chuyện về tu sĩ lõa thể Pāthikaputta (Acelapāthikaputtavatthu)

Này Bhaggava, một thời Ta trú ngay tại Vesālī, tại Sảnh đường Nóc nhọn trong Đại Lâm. Lúc bấy giờ, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đang sống ở Vesālī, đạt được lợi lộc tối đa và danh tiếng tối đa tại các ngôi làng của người Vajji. Người đó tuyên bố trước hội chúng ở Vesālī như sau: ‘Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ (ñāṇavādo), tôi cũng là người tuyên bố có trí tuệ. Người tuyên bố có trí tuệ xứng đáng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người với người tuyên bố có trí tuệ. Sa-môn Gotama hãy đi đến nửa đường, tôi cũng sẽ đi đến nửa đường. Tại đó, cả hai chúng tôi sẽ cùng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn một phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn hai. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn hai phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn bốn. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn bốn phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn tám. Cứ như vậy, Sa-môn Gotama biểu diễn bao nhiêu phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.’

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi nói với Ta điều này: ‘Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đang sống ở Vesālī, đạt được lợi lộc tối đa và danh tiếng tối đa tại các ngôi làng của người Vajji. Người đó tuyên bố trước hội chúng ở Vesālī như sau: “Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ, tôi cũng là người tuyên bố có trí tuệ. Người tuyên bố có trí tuệ xứng đáng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người với người tuyên bố có trí tuệ. Sa-môn Gotama hãy đi đến nửa đường, tôi cũng sẽ đi đến nửa đường. Tại đó, cả hai chúng tôi sẽ cùng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn một phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn hai. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn hai phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn bốn. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn bốn phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn tám. Cứ như vậy, Sa-môn Gotama biểu diễn bao nhiêu phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.”’

Khi được nói như vậy, này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Này Sunakkhatta, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.’

‘Kính thưa Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giữ gìn lời nói này, xin Thiện Thệ hãy giữ gìn lời nói này.’

‘Này Sunakkhatta, tại sao ngươi lại nói với Ta rằng: “Kính thưa Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giữ gìn lời nói này, xin Thiện Thệ hãy giữ gìn lời nói này”?’

‘Kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn đã thốt ra lời nói này một cách quả quyết: “Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.” Kính thưa Thế Tôn, lỡ như tu sĩ lõa thể Pāthikaputta thay đổi hình dạng và đến đối mặt với Thế Tôn, thì lời nói của Thế Tôn sẽ trở thành sai sự thật.’

‘Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ thốt ra lời nói hai lời không?’

‘Kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng tâm thấu hiểu tâm của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để biết rằng: “Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung”? Hay là có chư thiên đã báo cho Thế Tôn biết sự việc này: “Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung”?’

'Này Sunakkhatta, Ta vừa dùng tâm thấu hiểu tâm của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để biết rằng: “Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.” Và chư thiên cũng báo cho Ta biết sự việc này: “Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.” Hơn nữa, Ajita, vị tướng quân của người Licchavi vừa mới qua đời, đã tái sinh vào cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṁsa). Vị ấy cũng đã đến chỗ Ta và báo rằng: "Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta là kẻ không biết xấu hổ; kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta là kẻ nói dối. Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đã tuyên bố về con tại các ngôi làng của người Vajji rằng: ‘Ajita, tướng quân của người Licchavi đã tái sinh vào đại địa ngục.’

Nhưng kính thưa Thế Tôn, con không tái sinh vào đại địa ngục; con đã tái sinh vào cõi trời Đao Lợi. Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta là kẻ không biết xấu hổ; kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta là kẻ nói dối; và kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung."

Như vậy, này Sunakkhatta, Ta vừa dùng tâm thấu hiểu tâm của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để biết rằng tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung. Và chư thiên cũng báo cho Ta biết sự việc này: “Kính thưa Thế Tôn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.”

Này Sunakkhatta, sau khi đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Ta sẽ đi đến khu vườn của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Bây giờ, này Sunakkhatta, nếu ngươi muốn, hãy đi báo cho người đó biết.’

15. Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesàli, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Patikaputta sống ở Vesàli, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajji. Trong các buổi họp ở Vesàli, ông ta thường tuyên bố như sau:

“Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông của mình, nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiều pháp thần thông thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”

16. Này Bhâggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đã đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta:

“- Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta (Ba-lê tử) sống ở Vesàli, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajji. Trong buổi họp ở Vesàli, thường tuyên bố như sau: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama có thể thực hiện một pháp thượng nhân thần thông… thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:

“- Này Sunakkhatta, lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ta sẽ bị bể tan.

17. “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói! Thiện Thệ hãy thận trọng lời nói!

“- Này Sunakkhatta, tại sao Ngươi lại nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói.”?

“- Bạch Thế Tôn, lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách cực đoan: “Lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu ông ấy sẽ bị bể tan”! Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta có thể đến gặp mặt Thế Tôn với một hóa thân khác, và như vậy Thế Tôn trở thành nói không thật!

18. “- Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ nói lời nói nào có hai nghĩa không?

“- Bạch Thế Tôn, có phải do tự tâm phán xét mà Thế Tôn đã được biết về Patikaputta: “Lõa thể Patikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Hay là có vị Thiên thần nào đã báo tin cho Như Lai biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Patikaputta không có thể… đầu của ông ấy sẽ bị bể tan!”

“- Này Sunakkhatta, chính tự tâm phán xét mà ta đã biết về lõa thể Patikaputta: “Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta… đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Và cũng có vị Thiên thần đã báo tin cho Ta biết: “Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn… đầu ông ấy sẽ bị bể tan”. Vị tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita, khi mệnh chung vào ngày kia đã được sanh vào Tam thập tam thiên. Rồi vị ấy đến bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có tàm quý! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta đã nói về con, ở giữa làng Vajji như sau: “Tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita sẽ thác sanh vào Ðại địa ngục,” Bạch Thế Tôn, con không thác sanh vào Ðại địa ngục, Bạch Thế Tôn, con được sanh vào cõi Tam thập tam thiên! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có tàm quý. Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama… đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Này Sunakkhatta, như vậy chính tự tâm phán xét mà Ta biết về lõa thể Pàtikaputta. Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Và một vị thiên Thần đã báo tin cho ta biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”

“Này Sunakkhatta, sau khi Ta đi khất thực ở Vesàli, ăn xong và khất thực trở về, Ta sẽ đến tại vườn Pàtikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy tin cho ông ấy biết.”

5. Câu chuyện về việc biểu diễn phép lạ (Iddhipāṭihāriyakathā)

Rồi này Bhaggava, vào buổi sáng, Ta mặc y, mang bát, đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Ta đi đến khu vườn của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vội vã đi vào Vesālī, đi đến chỗ những người Licchavi nổi tiếng; sau khi đến, nói với những người Licchavi nổi tiếng điều này: ‘Này các bạn, Thế Tôn sau khi đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, đã đi đến khu vườn của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Hãy đến, thưa các tôn giả, hãy đến, thưa các tôn giả, sẽ có sự biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người của các bậc thiện nhân tu sĩ.’ Rồi này Bhaggava, những người Licchavi nổi tiếng khởi lên suy nghĩ: ‘Nghe nói sẽ có sự biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người của các bậc thiện nhân tu sĩ; vậy thì chúng ta hãy đi xem.’

Và người ấy cũng đi đến chỗ những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng; sau khi đến, nói với các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng điều này: ‘Này các bạn, Thế Tôn sau khi đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, đã đi đến khu vườn của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Hãy đến, thưa các tôn giả, hãy đến, thưa các tôn giả, sẽ có sự biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người của các bậc thiện nhân tu sĩ.’ Rồi này Bhaggava, các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng khởi lên suy nghĩ: ‘Nghe nói sẽ có sự biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người của các bậc thiện nhân tu sĩ; vậy thì chúng ta hãy đi xem.’

Rồi này Bhaggava, những người Licchavi nổi tiếng, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đi đến khu vườn của tu sĩ lõa thể Pāthikaputta. Này Bhaggava, hội chúng đó rất đông, lên đến hàng trăm, hàng ngàn người.

Này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta nghe tin: ‘Nghe nói những người Licchavi nổi tiếng đã đến, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đến. Và Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của mình.’ Nghe vậy, người đó sinh ra sợ hãi, run rẩy, sởn gai ốc. Rồi này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta trong trạng thái sợ hãi, hoảng hốt, sởn gai ốc, đã đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka.

Này Bhaggava, hội chúng đó nghe tin: ‘Nghe nói tu sĩ lõa thể Pāthikaputta trong trạng thái sợ hãi, hoảng hốt, sởn gai ốc, đã đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka.’ Rồi này Bhaggava, hội chúng đó gọi một người đàn ông và nói: ‘Này anh bạn, hãy đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka, đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, hãy nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta như sau: “Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, những người Licchavi nổi tiếng đã đến, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đến, và Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả; hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, bạn đã thốt ra lời này trước hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ, tôi cũng là người tuyên bố có trí tuệ. Người tuyên bố có trí tuệ xứng đáng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người với người tuyên bố có trí tuệ. Sa-môn Gotama hãy đi đến nửa đường, tôi cũng sẽ đi đến nửa đường. Tại đó, cả hai chúng tôi sẽ cùng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn một phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn hai. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn hai phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn bốn. Nếu Sa-môn Gotama biểu diễn bốn phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn tám. Cứ như vậy, Sa-môn Gotama biểu diễn bao nhiêu phép lạ vượt quá khả năng con người, tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.’ Hãy đến ngay nửa đường, này bạn Pāthikaputta. Sa-môn Gotama đã đến trước tiên và đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả.”’

‘Thưa vâng’, này Bhaggava, người đàn ông đó vâng lời hội chúng, đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka, đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, những người Licchavi nổi tiếng đã đến, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đến. Và Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả. Hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, bạn đã thốt ra lời này trước hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ; tôi cũng là người tuyên bố có trí tuệ. Người tuyên bố có trí tuệ xứng đáng biểu diễn phép lạ vượt quá khả năng con người với người tuyên bố có trí tuệ […lặp lại…] tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.” Hãy đến ngay nửa đường, này bạn Pāthikaputta. Sa-môn Gotama đã đến trước tiên và đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả.’

Khi được nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Rồi này Bhaggava, người đàn ông đó nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Này bạn Pāthikaputta, chuyện gì xảy ra với bạn vậy? Có phải mông của bạn dính chặt vào ghế, hay cái ghế dính chặt vào mông bạn? Bạn nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Dù bị nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

Khi người đàn ông đó, này Bhaggava, nhận ra: ‘Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta này đã bị đánh bại. Người này nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Rồi người đó quay lại hội chúng và báo cáo: ‘Thưa các vị, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đã bị đánh bại. Người đó nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Khi được báo như vậy, này Bhaggava, Ta nói với hội chúng điều này: ‘Này các bạn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.’

(Kết thúc phần tụng thứ nhất).

19. Này Bhaggava, rồi Ta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, Ta đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi vội vàng vào thành Sesàli, đến những Licchava có danh tiếng và báo tin cho những vị ấy biết:

“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa! Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”

Này Bhaggava, các Licchavi có danh tiếng suy nghĩ như sau: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”

Và chỗ nào có những Bà la môn có địa vị, những gia chủ giàu sang, các Bà la môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng, ông ta đi đến các vị này và báo tin cho biết:

“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pàtikaputta để nghỉ trưa. Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”

Này Bhaggava, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng suy nghĩ: “Sẽ có biểu diện pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”

Này Bhaggava, rồi các Licchavi có danh tiếng, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cùng đi đến vườn của Pàtikaputta. Này Bhaggava, như vậy Hội chúng này lên đến hàng trăm hàng ngàn người.

20. Này Bhaggava, lõa thể Pàtikaputta được nghe: “Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến, còn Sa môn Gotama thì ngồi nghỉ trưa tại vườn của ta.” Khi nghe vậy ông ấy hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược. Này Bhaggava, lõa thể Pàtikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược, liền đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu.

Này Bhaggava, Hội chúng ấy được nghe: “Lõa thể Pàtikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược đã đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu.” Này Bhaggava, Hội chúng liền cho gọi một người và bảo:

“- Này bạn hãy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp lõa thể Pàtikaputta và nói như sau: “Này bạn Pàtikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến. Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, lời nói sau đây được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Sesàli: “Sa môn là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện hai pháp thượng thần thông, thời ta sẽ thực hiện bốn pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiêu pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần. “Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả!”.

21. Này Bhaggava, người ấy vâng theo lời Hội chúng ấy, đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp lõa thể Pàtikaputta, sau khi gặp xong, liền thưa:

“- Này bạn Pàtikaputta, hãy đi đến. Các Licchavi danh tiếng… Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, lời nói sau được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesàli: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí… ta sẽ thực hiện gập hai lần”. Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường, Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường và ngổi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.”

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta trả lời:

“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”.

Nhưng ông ấy như trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Này Bhaggava, người ấy nói với lõa thể Pàtikaputta:

“- Này Hiền giả Pàtikaputta sao lại như vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả? “- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến.”

Tuy nói vậy nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”; nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

22. Này Bhaggava, khi người ấy biết được lõa thể Pàtikaputta này đã bị thảm hại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi, liền đến Hội chúng ấy báo tin:

“- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.”

Này Bhaggava, khi nghe vậy Ta nói Hội chúng:

“- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiền ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”

Rồi này Bhaggava, một vị đại thần người Licchavi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và nói với hội chúng điều này: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy đợi một lát, để tôi đi. Biết đâu tôi có thể đưa tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đến hội chúng này.’

Rồi này Bhaggava, vị đại thần người Licchavi đó đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka, đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, bạn đến thì tốt hơn. Những người Licchavi nổi tiếng đã đến, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đến. Và Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả. Hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, bạn đã thốt ra lời này trước hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ […lặp lại…] tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.” Hãy đến ngay nửa đường, này bạn Pāthikaputta. Sa-môn Gotama đã đến trước tiên và đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả. Hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, Sa-môn Gotama đã thốt ra lời này trước hội chúng: “Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.” Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, chỉ cần bạn đến, chúng tôi sẽ làm cho bạn chiến thắng, và Sa-môn Gotama thất bại.’

Khi được nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Rồi này Bhaggava, vị đại thần người Licchavi đó nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Này bạn Pāthikaputta, chuyện gì xảy ra với bạn vậy? Có phải mông của bạn dính chặt vào ghế, hay cái ghế dính chặt vào mông bạn? Bạn nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Dù bị nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

Khi vị đại thần người Licchavi đó, này Bhaggava, nhận ra: ‘Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta này đã bị đánh bại. Người này nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Rồi người đó quay lại hội chúng và báo cáo: ‘Thưa các vị, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đã bị đánh bại. Người đó nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Khi được báo như vậy, này Bhaggava, Ta nói với hội chúng điều này: ‘Này các bạn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung. Ngay cả khi các tôn giả Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy dùng dây da trói tu sĩ lõa thể Pāthikaputta lại và dùng những con bò kéo đến”, thì những sợi dây da đó sẽ đứt hoặc Pāthikaputta sẽ đứt. Nhưng tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.’

Rồi này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và nói với hội chúng điều này: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy đợi một lát, để tôi đi; biết đâu tôi có thể đưa tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đến hội chúng này.’

Rồi này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, đi đến khu vườn của các du sĩ tại gốc cây Tinduka, đi đến chỗ tu sĩ lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, bạn đến thì tốt hơn. Những người Licchavi nổi tiếng đã đến, những Bà-la-môn đại gia, những gia chủ giàu có, và các tu sĩ, Bà-la-môn thuộc các giáo phái khác nổi tiếng đã đến. Và Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả. Hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, bạn đã thốt ra lời này trước hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama là người tuyên bố có trí tuệ […lặp lại…] tôi sẽ biểu diễn gấp đôi, gấp đôi số đó.” Hãy đến ngay nửa đường, này bạn Pāthikaputta. Sa-môn Gotama đã đến trước tiên và đang ngồi nghỉ trưa trong khu vườn của tôn giả. Hơn nữa, này bạn Pāthikaputta, Sa-môn Gotama đã thốt ra lời này trước hội chúng: “Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung. Ngay cả khi các tôn giả Licchavi nghĩ rằng: ‘Chúng ta hãy dùng dây da trói tu sĩ lõa thể Pāthikaputta lại và dùng những con bò kéo đến’. Thì những sợi dây da đó sẽ đứt hoặc Pāthikaputta sẽ đứt. Nhưng tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó’, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.” Hãy đến, này bạn Pāthikaputta, chỉ cần bạn đến, chúng tôi sẽ làm cho bạn chiến thắng, và Sa-môn Gotama thất bại.’

Khi được nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Rồi này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, nói với tu sĩ lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Này bạn Pāthikaputta, chuyện gì xảy ra với bạn vậy? Có phải mông của bạn dính chặt vào ghế, hay cái ghế dính chặt vào mông bạn? Bạn nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Dù bị nói như vậy, này Bhaggava, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn’, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

Tụng Phẩm II

1. Này Bhaggava, một vị đại thần Licchavi, từ chỗ ngồi đứng dậy, nói với Hội chúng ấy:

“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi, xem có thể đưa lõa thể Pàtikaputta đến Hội chúng này không?”

Này Bhaggava, rồi vị đại thần Licchavi ấy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp mặt lõa thể Pàtikaputta và nói với ông ấy:

“- Này bạn Pàtikaputta hãy đến! Các Licchavi danh tiếng đã đến, và các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Ba la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến; còn Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesàli: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí… thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pàtikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy… ông ấy có thể đến gặp mặt Thế Tôn thì đầu cảu ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pàtikaputta hãy đến! Nếu Hiền gải đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”

2. Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ không thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, vị đại thần Licchavi liền nói với lõa thể Pàtikaputta:

“- Này Hiền giả Pàtikaputta, sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.” Này Bhaggava, khi được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.

3. Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi biết được lõa thể Pàtikaputta này đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền đến Hội chúng ấy báo tin:

“- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”

Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Hội chúng ấy:

“- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy… thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quí vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây, Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pàtikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy…” Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không từ bỏ lời nói ấy…”, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”

4. Này Bhaggava, lúc ấy Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, từ chỗ ngồi đứng dậy và nói với Hội chúng ấy:

“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi xem có thể đưa lõa thể Pàtikaputta đến Hội chúng này hay không?”

Này Bhaggava, rồi Jàliya, đệ tử của Dàrupatti đi đến vườn các du sĩ Tindukkhànu, gặp mặt lõa thể Pàtikaputta và nói với ông ấy:

“- Này bạn Pàtikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến… Sa môn Gotama nay đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesàli như sau: “Sa môn Gotama là người có trí… thời ta sẽ thực pháp gấp hai lần.” Này Hiền giả Pàtikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pàtikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pàtikaputta nếu không từ bỏ lời nói ấy… Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không bỏ lời nói ấy… có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama…”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây”, Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pàtikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy… đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pàtikaputta hãy đến. Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng, và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”

5. Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dạy. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti nói với lõa thể Pàtikaputta:

“- Này Hiền giả Pàtikaputta sao lại vậy? Hình như mông của Hiêng giả dính liền vào ghế, hay ghế dính vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trương bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tối sẽ đến; này Ban, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”

Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pàtikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”

Khi Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, này Bhaggava, nhận ra: ‘Tu sĩ lõa thể Pāthikaputta này đã bị đánh bại. Người này nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi’, thì người đó nói với Pāthikaputta điều này:

'Thuở xưa, này bạn Pāthikaputta, sư tử chúa tể các loài thú khởi lên suy nghĩ: “Hay là ta hãy dựa vào một khu rừng để làm chỗ ở. Sau khi làm chỗ ở đó, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi chỗ ở, ra khỏi chỗ ở ta sẽ vươn vai, vươn vai xong ta sẽ nhìn quanh bốn phương, nhìn quanh bốn phương xong ta sẽ rống lên tiếng rống của sư tử ba lần, rống lên tiếng rống của sư tử ba lần xong ta sẽ đi săn mồi. Ta sẽ giết những con thú tốt nhất trong bầy thú, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi quay trở lại chỗ ở đó.”

Rồi này bạn, con sư tử chúa tể các loài thú đó dựa vào một khu rừng để làm chỗ ở. Sau khi làm chỗ ở đó, vào buổi chiều nó ra khỏi chỗ ở, ra khỏi chỗ ở nó vươn vai, vươn vai xong nó nhìn quanh bốn phương, nhìn quanh bốn phương xong nó rống lên tiếng rống của sư tử ba lần, rống lên tiếng rống của sư tử ba lần xong nó đi săn mồi. Nó giết những con thú tốt nhất trong bầy thú, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi quay trở lại chỗ ở đó.

Này bạn Pāthikaputta, có một con chó rừng già lớn lên nhờ ăn đồ thừa của con sư tử chúa tể các loài thú đó, nó trở nên kiêu ngạo và mạnh mẽ. Rồi này bạn, con chó rừng già đó khởi lên suy nghĩ: “Ta là ai, và sư tử chúa tể các loài thú là ai? Hay là ta cũng dựa vào một khu rừng để làm chỗ ở. Sau khi làm chỗ ở đó, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi chỗ ở, ra khỏi chỗ ở ta sẽ vươn vai, vươn vai xong ta sẽ nhìn quanh bốn phương, nhìn quanh bốn phương xong ta sẽ rống lên tiếng rống của sư tử ba lần, rống lên tiếng rống của sư tử ba lần xong ta sẽ đi săn mồi. Ta sẽ giết những con thú tốt nhất trong bầy thú, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi quay trở lại chỗ ở đó.”

Rồi này bạn, con chó rừng già đó dựa vào một khu rừng để làm chỗ ở. Sau khi làm chỗ ở đó, vào buổi chiều nó ra khỏi chỗ ở, ra khỏi chỗ ở nó vươn vai, vươn vai xong nó nhìn quanh bốn phương, nhìn quanh bốn phương xong nó nghĩ: “Ta sẽ rống lên tiếng rống của sư tử”, nhưng nó chỉ tru lên tiếng của chó rừng, chỉ tru lên tiếng của loài bheraṇḍaka. Chó rừng hèn hạ là gì, và tiếng rống của sư tử là gì?

Cũng vậy, này bạn Pāthikaputta, bạn sống nhờ vào những dấu vết của Thiện Thệ, ăn những đồ thừa của Thiện Thệ, mà lại nghĩ rằng mình có thể xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, và việc xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là gì?’

Này Bhaggava, vì Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, bằng ví dụ này vẫn không thể làm cho tu sĩ lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi đó. Nên người đó lại nói với Pāthikaputta điều này:

'Tự coi mình là sư tử,
Chó rừng nghĩ: “Ta là chúa tể các loài thú”;
Nhưng nó chỉ tru lên tiếng chó rừng,
Chó rừng hèn hạ là gì, và tiếng rống của sư tử là gì?

Cũng vậy, này bạn Pāthikaputta, bạn sống nhờ vào những dấu vết của Thiện Thệ, ăn những đồ thừa của Thiện Thệ, mà lại nghĩ rằng mình có thể xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, và việc xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là gì?’

Này Bhaggava, vì Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, bằng ví dụ này vẫn không thể làm cho tu sĩ lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi đó. Nên người đó lại nói với Pāthikaputta điều này:

'Đi theo dấu chân của người khác,
Tự coi mình nhờ ăn đồ thừa;
Chừng nào chưa nhìn rõ chính mình,
Chó rừng vẫn nghĩ mình là cọp.

Nhưng nó chỉ tru lên tiếng chó rừng,
Chó rừng hèn hạ là gì, và tiếng rống của sư tử là gì?

Cũng vậy, này bạn Pāthikaputta, bạn sống nhờ vào những dấu vết của Thiện Thệ, ăn những đồ thừa của Thiện Thệ, mà lại nghĩ rằng mình có thể xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, và việc xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là gì?’

Này Bhaggava, vì Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, bằng ví dụ này vẫn không thể làm cho tu sĩ lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi đó. Nên người đó lại nói với Pāthikaputta điều này:

'Ăn ếch nhái và chuột đồng,
Và những xác chết vứt ở nghĩa địa;
Lớn lên trong khu rừng lớn vắng vẻ,
Chó rừng nghĩ: “Ta là chúa tể các loài thú”;
Nhưng nó chỉ tru lên tiếng chó rừng,
Chó rừng hèn hạ là gì, và tiếng rống của sư tử là gì?

Cũng vậy, này bạn Pāthikaputta, bạn sống nhờ vào những dấu vết của Thiện Thệ, ăn những đồ thừa của Thiện Thệ, mà lại nghĩ rằng mình có thể xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, và việc xúc phạm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là gì?’

Này Bhaggava, vì Jāliya, đệ tử của người thợ làm bát gỗ, bằng ví dụ này vẫn không thể làm cho tu sĩ lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi đó. Rồi người đó quay lại hội chúng và báo cáo: ‘Thưa các vị, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta đã bị đánh bại. Người đó nói: “Tôi đang đến, này bạn, tôi đang đến, này bạn”, nhưng lại oằn oại ngay tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’

Khi được báo như vậy, này Bhaggava, Ta nói với hội chúng điều này: ‘Này các bạn, tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung. Ngay cả khi các tôn giả Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy dùng dây da trói tu sĩ lõa thể Pāthikaputta lại và dùng những con voi kéo đến”. Thì những sợi dây da đó sẽ đứt hoặc Pāthikaputta sẽ đứt. Nhưng tu sĩ lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến đối mặt với Ta nếu không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó. Nếu người đó nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến đối mặt với Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói đó, không từ bỏ tâm ý đó, không buông bỏ quan điểm đó”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ tung.’

Rồi này Bhaggava, Ta đã dùng bài thuyết giảng Điều dạy để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ hội chúng đó. Sau khi dùng bài thuyết giảng Điều dạy để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỷ hội chúng đó, giải thoát họ khỏi sự trói buộc lớn, cứu vớt tám vạn bốn ngàn sinh linh khỏi vực thẳm lớn, Ta nhập vào Hỏa giới (tejodhātu), bay lên hư không cao bằng bảy cây thốt nốt, tạo ra một ngọn lửa khác cao bằng bảy cây thốt nốt, bốc cháy và tỏa khói, rồi Ta xuất hiện trở lại tại Sảnh đường Nóc nhọn trong Đại Lâm.

Rồi này Bhaggava, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi điều này: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, những gì Ta đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Pāthikaputta, kết quả có đúng như vậy không, hay là khác đi?’

‘Kính thưa Thế Tôn, những gì Thế Tôn đã tiên đoán về tu sĩ lõa thể Pāthikaputta, kết quả đúng như vậy, không khác đi.’

‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện hay chưa được thực hiện?’

‘Kính thưa Thế Tôn, chắc chắn nếu sự việc là như vậy, thì một phép lạ vượt quá khả năng con người đã được thực hiện, không phải là chưa được thực hiện.’

‘Hỡi kẻ rỗng tuếch, Ta thực hiện phép lạ vượt quá khả năng con người như vậy mà ngươi lại nói với Ta rằng: “Nhưng kính thưa Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con những phép lạ vượt quá khả năng con người”. Hỡi kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.’

Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vẫn rời bỏ Điều dạy và Luật này, như một kẻ rơi vào cõi khổ, rơi vào địa ngục.

6. Này Bhaggava, khi Jàliya, đệ tử của Dàrupatti biết được lõa thể Pàtikaputta nay đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền nói với ông ấy:

“- Này Hiền giả Pàtikaputta, thuở xưa con sư tử vua các loài thú suy nghĩ: “Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại”.

“Này Hiền giả, con sư tử ấy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, nó đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại.

7. “Này Hiền giả Pàtikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Com chó rừng ấy suy nghĩ: “Ta là ai, và con sư tử, vua các loài thú, là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi trở về sào huyệt lại.”

“Này Hiền giả, con chó rừng kia ý cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng. Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng đê tiện với tiếng rống con sư tử?

“Cũng vậy, này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”

8. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupati dầu có dùng ví dụ ấy cũng không thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:

Chó rừng nhìn tự thân,
Tự nghĩ là sư tử.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?

“Cũng vậy, này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A lán hán, Chánh Ðẳng Giác?”

10. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, dầu có dùng vó dụ ấy cũng không có thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:

Ăn cóc, chuột kho thóc,
Ăn xác quăng nghĩa địa,
Sống Ðại lân, Không lâm,
Tự nghĩ là vua thú.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?

“Cũng vậy này Hiền giả Pàtikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pàtikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Nha Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”

11. Này Bhaggava, Jàliya, đệ tử của Dàrupatti, dầu có dùng ví dụ ấy, cũng không thể khiến lõa thể Pàtikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền về Hội chúng ấy và báo tin:

“- Lõa thể Pàtikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”

12. Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với hội chúng ấy:

“- Này các Hiền giả, lõa thể Pàtikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta tuy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pàtikaputta với dây thừng và dùng bò kéo ông ấy lại đây”. Pàtikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pàtikaputta không có thể không từ bỏ lời nói ấy… có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta có thể không từ bỏ lời nói ấy… có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”

13. Này Bhaggava, rồi Ta giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp. Sau khi giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp, Ta khiến cho họ giải thoát đại kiết sử, cứu vớt tám vạn bốn ngàn chúng sanh thoát khỏi đại đọa xứ, Ta nhập thiền quang giới tam muội, bay lên hư không cao đến bay cây ta-la, phóng hào quang cao đến hơn bảy cây ta-la, khiến cho cháy sáng, rực sáng và Ta hiện ra tại Trùng Các giảng đường ở Ðại Lâm. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải điều Ta nói cho Ngươi về lõa thể Pàtikaputta, đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác?

“- Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn nói cho con về lõa thể Pàtikaputta đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác.

“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thì có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện hay không được thực hiện?

“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, không phải không thực hiện. − “Này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi lại nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”

Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.

6. Câu chuyện về việc tuyên bố nguồn gốc thế giới (Aggaññapaññattikathā)

Ta thấy rõ (pajānāti) nguồn gốc thế giới, này Bhaggava. Ta thấy rõ điều đó, và Ta còn thấy rõ xa hơn thế nữa. Dù thấy rõ điều đó, Ta không bám víu vào nó; vì không bám víu, Ta tự mình kinh nghiệm được sự dập tắt (nibbuti), điều mà khi hiểu thực tế (abhijānāti), Như Lai không rơi vào tai họa.

Này Bhaggava, có một số tu sĩ và Bà-la-môn tuyên bố nguồn gốc thế giới là do sự sáng tạo của Thượng đế (Issara), do sự sáng tạo của Phạm thiên (Brahma). Ta đi đến chỗ họ và nói như sau: ‘Có đúng là các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do sự sáng tạo của Thượng đế, do sự sáng tạo của Phạm thiên không?’ Khi bị Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ như sau: ‘Nhưng các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do sự sáng tạo của Thượng đế, do sự sáng tạo của Phạm thiên theo cách thức nào?’ Bị Ta hỏi, họ không thể trả lời được; vì không thể trả lời, họ hỏi ngược lại Ta. Được họ hỏi, Ta trả lời:

'Này các bạn, có một thời điểm, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này co rút lại. Khi thế giới co rút lại, phần lớn chúng sinh được sinh ra ở cõi trời Quang Âm (Ābhassara). Ở đó, họ được tạo ra từ tâm trí, nuôi dưỡng bằng sự hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Này các bạn, có một thời điểm, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này giãn nở ra. Khi thế giới giãn nở ra, một lâu đài Phạm thiên trống rỗng xuất hiện. Rồi một chúng sinh nào đó, do hết tuổi thọ hoặc hết phước báo, chết đi từ cõi trời Quang Âm và tái sinh vào lâu đài Phạm thiên trống rỗng đó. Ở đó, vị ấy được tạo ra từ tâm trí, nuôi dưỡng bằng sự hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Vì sống một mình ở đó quá lâu, vị ấy sinh ra sự bất mãn và khao khát: “Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này.”

Rồi những chúng sinh khác, do hết tuổi thọ hoặc hết phước báo, chết đi từ cõi trời Quang Âm và tái sinh vào lâu đài Phạm thiên, trở thành bạn đồng hành của chúng sinh đó. Ở đó, họ cũng được tạo ra từ tâm trí, nuôi dưỡng bằng sự hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Này các bạn, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên khởi lên suy nghĩ: “Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến thắng, Đấng Không bị đánh bại, Đấng Toàn tri, Đấng Toàn năng, Thượng đế, Đấng Tạo hóa, Đấng Hóa sinh, Đấng Tối cao, Đấng Sắp đặt, Đấng Tự tại, Cha của những kẻ đã sinh và sẽ sinh. Những chúng sinh này do ta tạo ra. Vì sao vậy? Vì trước đây ta đã khởi lên suy nghĩ: ‘Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này’; đó là ý muốn của ta. Và những chúng sinh này đã đến trạng thái này.”

Còn những chúng sinh sinh ra sau, họ cũng khởi lên suy nghĩ: “Vị này là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến thắng, Đấng Không bị đánh bại, Đấng Toàn tri, Đấng Toàn năng, Thượng đế, Đấng Tạo hóa, Đấng Hóa sinh, Đấng Tối cao, Đấng Sắp đặt, Đấng Tự tại, Cha của những kẻ đã sinh và sẽ sinh; chúng ta do vị Phạm thiên này tạo ra. Vì sao vậy? Vì chúng ta thấy vị này sinh ra ở đây trước tiên; còn chúng ta thì sinh ra sau.”

Này các bạn, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên có tuổi thọ dài hơn, dung sắc đẹp hơn và có quyền lực lớn hơn. Còn những chúng sinh sinh ra sau có tuổi thọ ngắn hơn, dung sắc kém hơn và quyền lực nhỏ hơn.

Này các bạn, có khả năng một chúng sinh nào đó chết đi từ cõi đó và đến trạng thái này [cõi người]. Đến trạng thái này, người đó từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, nhờ sự nỗ lực, nhờ sự tinh tấn, nhờ sự chuyên tâm, nhờ sự không mê muội, nhờ sự suy xét đúng đắn, người đó đạt đến một trạng thái Định của tâm, mà khi tâm được Định như vậy, người đó nhớ lại được kiếp sống trước đó; nhưng không nhớ được xa hơn thế.

Người đó nói như sau: “Vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến thắng, Đấng Không bị đánh bại, Đấng Toàn tri, Đấng Toàn năng, Thượng đế, Đấng Tạo hóa, Đấng Hóa sinh, Đấng Tối cao, Đấng Sắp đặt, Đấng Tự tại, Cha của những kẻ đã sinh và sẽ sinh, vị Phạm thiên đã tạo ra chúng ta đó. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Còn chúng ta, những người do vị Phạm thiên đó tạo ra, chúng ta là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, chịu sự hoại diệt, nên đã đến trạng thái này.” Có phải các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do sự sáng tạo của Thượng đế, do sự sáng tạo của Phạm thiên theo cách thức này không?’

Họ nói như sau: ‘Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi cũng nghe đúng như những gì tôn giả Gotama đã nói.’

Ta thấy rõ nguồn gốc thế giới, này Bhaggava. Ta thấy rõ điều đó, và Ta còn thấy rõ xa hơn thế nữa. Dù thấy rõ điều đó, Ta không bám víu vào nó; vì không bám víu, Ta tự mình kinh nghiệm được sự dập tắt, điều mà khi hiểu thực tế, Như Lai không rơi vào tai họa.

Này Bhaggava, có một số tu sĩ và Bà-la-môn tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì vui đùa (khiḍḍāpadosika). Ta đi đến chỗ họ và nói như sau: ‘Có đúng là các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì vui đùa không?’ Khi bị Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ như sau: ‘Nhưng các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì vui đùa theo cách thức nào?’ Bị Ta hỏi, họ không thể trả lời được; vì không thể trả lời, họ hỏi ngược lại Ta. Được họ hỏi, Ta trả lời:

'Này các bạn, có những chư thiên tên là “Bị hư hỏng vì vui đùa”. Họ dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ. Vì dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ, trí nhớ của họ bị suy giảm; do trí nhớ bị suy giảm, những chư thiên đó chết đi từ cõi đó.

Này các bạn, có khả năng một chúng sinh nào đó chết đi từ cõi đó và đến trạng thái này. Đến trạng thái này, người đó từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, nhờ sự nỗ lực, nhờ sự tinh tấn, nhờ sự chuyên tâm, nhờ sự không mê muội, nhờ sự suy xét đúng đắn, người đó đạt đến một trạng thái Định của tâm, mà khi tâm được Định như vậy, người đó nhớ lại được kiếp sống trước đó; nhưng không nhớ được xa hơn thế.

Người đó nói như sau: “Những vị chư thiên không bị hư hỏng vì vui đùa, họ không dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ. Vì không dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ, trí nhớ của họ không bị suy giảm; do trí nhớ không bị suy giảm, những chư thiên đó không chết đi từ cõi đó, họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Còn chúng ta là những người bị hư hỏng vì vui đùa, chúng ta đã dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ. Vì dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và hưởng thụ, trí nhớ của chúng ta bị suy giảm; do trí nhớ bị suy giảm, chúng ta đã chết đi từ cõi đó, chúng ta là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, chịu sự hoại diệt, nên đã đến trạng thái này.” Có phải các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì vui đùa theo cách thức này không?’

Họ nói như sau: ‘Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi cũng nghe đúng như những gì tôn giả Gotama đã nói.’

Ta thấy rõ nguồn gốc thế giới, này Bhaggava. […lặp lại…] điều mà khi hiểu thực tế, Như Lai không rơi vào tai họa.

Này Bhaggava, có một số tu sĩ và Bà-la-môn tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì tâm ý (manopadosika). Ta đi đến chỗ họ và nói như sau: ‘Có đúng là các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì tâm ý không?’ Khi bị Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ như sau: ‘Nhưng các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì tâm ý theo cách thức nào?’ Bị Ta hỏi, họ không thể trả lời được; vì không thể trả lời, họ hỏi ngược lại Ta. Được họ hỏi, Ta trả lời:

'Này các bạn, có những chư thiên tên là “Bị hư hỏng vì tâm ý”. Họ dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau. Vì dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau, họ sinh ra tâm ý tức giận lẫn nhau. Vì có tâm ý tức giận lẫn nhau, cơ thể họ mệt mỏi, tâm trí họ mệt mỏi. Những chư thiên đó chết đi từ cõi đó.

Này các bạn, có khả năng một chúng sinh nào đó chết đi từ cõi đó và đến trạng thái này. Đến trạng thái này, người đó từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, nhờ sự nỗ lực, nhờ sự tinh tấn, nhờ sự chuyên tâm, nhờ sự không mê muội, nhờ sự suy xét đúng đắn, người đó đạt đến một trạng thái Định của tâm, mà khi tâm được Định như vậy, người đó nhớ lại được kiếp sống trước đó; nhưng không nhớ được xa hơn thế.

Người đó nói như sau: “Những vị chư thiên không bị hư hỏng vì tâm ý, họ không dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau. Vì không dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau, họ không sinh ra tâm ý tức giận lẫn nhau. Vì không có tâm ý tức giận lẫn nhau, cơ thể họ không mệt mỏi, tâm trí họ không mệt mỏi. Những chư thiên đó không chết đi từ cõi đó, họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Còn chúng ta là những người bị hư hỏng vì tâm ý, chúng ta đã dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau. Vì dành quá nhiều thời gian nhìn trừng trừng vào nhau, chúng ta sinh ra tâm ý tức giận lẫn nhau. Vì có tâm ý tức giận lẫn nhau, cơ thể chúng ta mệt mỏi, tâm trí chúng ta mệt mỏi. Do đó, chúng ta đã chết đi từ cõi đó, chúng ta là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, chịu sự hoại diệt, nên đã đến trạng thái này.” Có phải các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là do bị hư hỏng vì tâm ý theo cách thức này không?’

Họ nói như sau: ‘Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi cũng nghe đúng như những gì tôn giả Gotama đã nói.’

Ta thấy rõ nguồn gốc thế giới, này Bhaggava. […lặp lại…] điều mà khi hiểu thực tế, Như Lai không rơi vào tai họa.

Này Bhaggava, có một số tu sĩ và Bà-la-môn tuyên bố nguồn gốc thế giới là phát sinh ngẫu nhiên (adhiccasamuppanna). Ta đi đến chỗ họ và nói như sau: ‘Có đúng là các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là phát sinh ngẫu nhiên không?’ Khi bị Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta nói với họ như sau: ‘Nhưng các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là phát sinh ngẫu nhiên theo cách thức nào?’ Bị Ta hỏi, họ không thể trả lời được; vì không thể trả lời, họ hỏi ngược lại Ta. Được họ hỏi, Ta trả lời:

'Này các bạn, có những chư thiên tên là “Chúng sinh không có nhận thức” (asaññasattā). Ngay khi nhận thức phát sinh, những chư thiên đó chết đi từ cõi đó.

Này các bạn, có khả năng một chúng sinh nào đó chết đi từ cõi đó và đến trạng thái này. Đến trạng thái này, người đó từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, nhờ sự nỗ lực, nhờ sự tinh tấn, nhờ sự chuyên tâm, nhờ sự không mê muội, nhờ sự suy xét đúng đắn, người đó đạt đến một trạng thái Định của tâm, mà khi tâm được Định như vậy, người đó nhớ lại được sự phát sinh của nhận thức đó; nhưng không nhớ được xa hơn thế.

Người đó nói như sau: “Bản ngã và thế giới là phát sinh ngẫu nhiên. Vì sao vậy? Vì trước đây tôi không tồn tại, nhưng bây giờ từ chỗ không tồn tại, tôi đã chuyển sang trạng thái tồn tại.” Có phải các tôn giả tuyên bố nguồn gốc thế giới là phát sinh ngẫu nhiên theo cách thức này không?’

Họ nói như sau: ‘Thưa tôn giả Gotama, chúng tôi cũng nghe đúng như những gì tôn giả Gotama đã nói.’

Ta thấy rõ nguồn gốc thế giới, này Bhaggava. Ta thấy rõ điều đó, và Ta còn thấy rõ xa hơn thế nữa. Dù thấy rõ điều đó, Ta không bám víu vào nó; vì không bám víu, Ta tự mình kinh nghiệm được sự dập tắt, điều mà khi hiểu thực tế, Như Lai không rơi vào tai họa.

Này Bhaggava, khi Ta nói như vậy, giải thích như vậy, có một số tu sĩ và Bà-la-môn đã vu khống Ta bằng những điều không thật, trống rỗng, dối trá, không có cơ sở rằng: 'Sa-môn Gotama và các tỳ kheo đã bị sai lệch.

Sa-môn Gotama nói như sau: “Vào lúc một người đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh (subha vimokkha), vào lúc đó người ấy chỉ thấy rõ mọi thứ là không thanh tịnh.”’

Nhưng này Bhaggava, Ta không hề nói như vậy: ‘Vào lúc một người đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh, vào lúc đó người ấy chỉ thấy rõ mọi thứ là không thanh tịnh.’ Mà này Bhaggava, Ta nói như sau: ‘Vào lúc một người đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh, vào lúc đó người ấy chỉ thấy rõ sự thanh tịnh.’"

“Kính thưa Thế Tôn, chính những người cho rằng Thế Tôn bị sai lệch, những người đó và các tỳ kheo của họ mới là những người bị sai lệch. Kính thưa Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn như thế này: Thế Tôn có khả năng giảng dạy Điều dạy cho con, để con có thể đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh.”

“Này Bhaggava, thật khó cho ngươi—một người có quan điểm khác, có niềm tin khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có bậc đạo sư khác—có thể đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh. Này Bhaggava, ngươi hãy khéo léo giữ gìn niềm tin mà ngươi đang có đối với Ta.”

“Kính thưa Thế Tôn, nếu thật khó cho con—một người có quan điểm khác, có niềm tin khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có bậc đạo sư khác—có thể đạt được và an trú trong sự giải thoát thanh tịnh. Thì kính thưa Thế Tôn, con sẽ khéo léo giữ gìn niềm tin mà con đang có đối với Thế Tôn.”

Thế Tôn đã nói những điều này. Du sĩ Bhaggavagotta vui mừng đón nhận lời dạy của Thế Tôn.

Kết thúc Kinh Pāthika thứ nhất.

14. Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi. Này Bhaggava, có những vị Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên (Issara) tạo ra, do Phạm thiên (Brahma) tạo ra. Ta đến những vị ấy và nói:

“- Có phải chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

“- Vâng!”

Ta nói với quý vị ấy:

“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo thuyền thống là do Tự tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra”?

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

15. “- Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, phần lớn các loài hữu tình chuyển sanh qua Abhassara (Quang Âm thiên) ở tại đây, những loài hữu tình nào do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một loài hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hãy phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không để làm bạn với vị hữu tình kia. Các loại hữu tình này ở đây cũng có ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

16. “Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau”.

17. “Này các Hiền giả, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy, sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn, và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn, và được ít uy quyền hơn. Này các Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng Tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không biến chuyển, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”! Này các Hiền giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, là do Phạm thiên tạo ra…?”

Các vị ấy nói như sau:

“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới… mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”

18. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi dục lạc. Ta đến những vị ấy và nói:

“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

“- Vâng.”

Ta nói với quý vị ấy:

“- Sao chư Hiền giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới truyền thống, là do nhiễm hoặc bởi dục lạc?”

Ðược Ta hỏi như vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

“- Này các Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể của họ. Sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói: “Những vị Thiên không bị nhiễm hoặc vì dục lạc, họ sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên Chư thiên ấy không thác sanh, không từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lậu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến chỗ này”. Này các Tôn giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc có phải không?”

Các vị ấy nói như sau:

“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới,… mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.

19. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí. Ta đến những vị ấy và nói:

“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

− “Vâng”.

Ta nói với quý vị ấy:

“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

“- Chư Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (nhiễm hoặc bởi tâm trí.) Họ sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân họ mệt mỏi, tâm họ mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân này của họ. Các Hiền giả, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia, khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi sanh đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, họ sống lâu ngày không bị nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ không oán ghét nhau. Vì tâm trí họ không oán ghét nhau, nên thân họ không mệt mỏi, tâm họ không mệt mỏi. Hạng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”. Như vậy, này các Hiền giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên của thế giới theo truyền thống là do bị nhiễm hoặc bởi tâm trí.”

Họ trả lời như sau:

“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên của thế giới… mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”

20. Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thốg là do vô nhân sanh. Ta đến những vị ấy và nói:

“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:

“- Vâng”.

Ta nói với quý vị ấy:

“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truền thống là do vô nhân sanh?”

Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:

“- Chư Hiền giả, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Chư Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm… nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói: “Bản ngã về thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng: Tôi trước kia không có, nay có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loại hữu tình”. Như vậy, này các Tôn giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh có phải như vậy không?”

Họ trả lời:

“- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.

21. Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: “Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo. Sa môn Gotama đã tuyên bố: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh”. Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh.” Này Bhaggava, Ta nói như sau: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là thanh tịnh”

− Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo. Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.

− Này Bhaggava, thật khó cho Ngươi khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để có thể đạt được thanh tịnh, giải thoát. Này Bhaggava, hãy đặt nặng lòng tin ở nơi Ta, hãy khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.

− Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, khi con theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác, để có thể đạt được thanh tịnh giải thoát, thời Bạch Thế Tôn, ít nhất con cũng đặt nặng lòng tin vào Thế Tôn, và con sẽ khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, du sĩ Bhaggava hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.

-ooOoo-