Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 25. KINH UDUMBARIKA

(Udumbarikasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về du sĩ Nigrodha (Nigrodhaparibbājakavatthu)

Tôi nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Vào lúc bấy giờ, du sĩ Nigrodha đang trú tại khu vườn của các du sĩ Udumbarikā cùng với một hội chúng du sĩ lớn, khoảng ba trăm vị. Khi ấy, gia chủ Sandhāna rời khỏi Rājagaha vào giữa ban ngày để đến yết kiến Thế Tôn.

Rồi gia chủ Sandhāna suy nghĩ: “Nay chưa phải lúc để đến yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang tĩnh tu. Cũng chưa phải lúc để yết kiến các tỳ-kheo đáng kính. Các tỳ-kheo đáng kính đang tĩnh tu. Hay là ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ Udumbarikā, nơi du sĩ Nigrodha đang ở”. Rồi gia chủ Sandhāna đi đến khu vườn của các du sĩ Udumbarikā.

Vào lúc bấy giờ, du sĩ Nigrodha đang ngồi cùng với hội chúng du sĩ lớn, ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ, đang tham gia vào nhiều loại câu chuyện vô ích (súc sanh thoại / tiracchānakathā). Như—chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện quần áo, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện họ hàng, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện quốc gia, chuyện đàn bà, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người chết, chuyện tạp lục, chuyện thế giới, chuyện biển cả, chuyện sự tồn tại và không tồn tại.

Du sĩ Nigrodha trông thấy gia chủ Sandhāna đang đi đến từ đằng xa. Thấy vậy, ông liền yêu cầu hội chúng của mình dừng lại: “Các tôn giả hãy giữ im lặng, các tôn giả đừng làm ồn. Đây là gia chủ Sandhāna, một đệ tử của sa-môn Gotama đang đi đến. Trong số các đệ tử tại gia mặc áo trắng của sa-môn Gotama đang cư trú tại Rājagaha, gia chủ Sandhāna này là một người trong số đó. Những vị tôn giả ấy thích sự im lặng, được rèn luyện trong sự im lặng, ca ngợi sự im lặng. Biết đâu, nếu thấy hội chúng im lặng, ông ấy sẽ nghĩ đến việc bước vào”. Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy liền im lặng.

Sau đó, gia chủ Sandhāna đi đến chỗ du sĩ Nigrodha, khi đến nơi liền chào hỏi du sĩ Nigrodha. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Sandhāna nói với du sĩ Nigrodha: “Thật khác biệt khi các tôn giả là những du sĩ ngoại đạo tụ tập, hội họp lại, ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ, tham gia vào nhiều loại câu chuyện vô ích. Như—chuyện vua chúa […lặp lại…] chuyện sự tồn tại và không tồn tại. Thật khác biệt với Thế Tôn, Ngài lui tới những chỗ ở xa xôi hẻo lánh trong rừng núi, ít tiếng ồn, ít âm thanh, vắng bóng người, ẩn khuất khỏi con người, thích hợp cho sự tĩnh tu”.

Khi được nói như vậy, du sĩ Nigrodha nói với gia chủ Sandhāna: “Này gia chủ, ông có biết sa-môn Gotama nói chuyện với ai, thảo luận với ai, đàm đạo trí tuệ với ai không? Trí tuệ của sa-môn Gotama bị phá hủy trong ngôi nhà trống, sa-môn Gotama không quen tiếp xúc với hội chúng, không đủ khả năng đàm luận. Ông ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Giống như một con bò chột mắt chỉ đi lang thang ở vùng rìa, lui tới những nơi hẻo lánh. Cũng vậy, trí tuệ của sa-môn Gotama bị phá hủy trong ngôi nhà trống; sa-môn Gotama không quen tiếp xúc với hội chúng; không đủ khả năng đàm luận. Ông ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Này gia chủ, nếu sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng tôi sẽ đánh bại ông ấy chỉ bằng một câu hỏi duy nhất, chúng tôi sẽ lăn ông ấy qua lại như một cái bình rỗng”.

Thế Tôn nghe được cuộc trò chuyện này của gia chủ Sandhāna và du sĩ Nigrodha bằng tai thần (thiên nhĩ / dibbāya sotadhātuyā) thanh tịnh, vượt xa khả năng của con người. Sau đó, Thế Tôn đi xuống từ núi Gijjhakūṭa và tiến đến bờ hồ Sumāgadhā, nơi có bãi cho công ăn; khi đến nơi, Ngài đi kinh hành ngoài trời tại bãi cho công ăn bên bờ hồ Sumāgadhā.

Du sĩ Nigrodha trông thấy Thế Tôn đang đi kinh hành ngoài trời tại bãi cho công ăn bên bờ hồ Sumāgadhā. Thấy vậy, ông liền yêu cầu hội chúng của mình dừng lại: “Các tôn giả hãy giữ im lặng, các tôn giả đừng làm ồn, sa-môn Gotama đang đi kinh hành ngoài trời tại bãi cho công ăn bên bờ hồ Sumāgadhā. Vị tôn giả ấy thích sự im lặng, ca ngợi sự im lặng. Biết đâu, nếu thấy hội chúng im lặng, ông ấy sẽ nghĩ đến việc bước vào. Nếu sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi ông ấy câu hỏi này: ‘Bạch Thế Tôn, Điều dạy mà Thế Tôn dạy các đệ tử là gì, để khi các đệ tử được Thế Tôn dạy, họ có thể xác nhận đạt được sự an ổn, đến cốt lõi của đời sống thánh thiện ?’” Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy liền im lặng.

25. KINH ƯU-ÐÀM-BÀ-LA SƯ TỬ HỐNG

(Udumbarikà-Sìhanàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời, Thế tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Kỳ-xà-quật). Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha (Ni-câu-đà) ở tại vườn của nữ hoàng Udumbarikà (Ưu-đàm-bà-la) dành cho du sĩ đoàn, cùng với đại hội chúng du sĩ, khoảng ba ngàn người. Gia chủ Sandhana (Tán-đà-na), vào buổi chiều đi ra khỏi thành Vương Xá để yết kiến Thế Tôn. Rồi gia chủ Sandhana suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang an lặng tịnh cư. Cũng không phải thời để yết kiến chúng Tăng, vì chúng Tăng đang tu tập thiền định. Vậy ta hãy đi đến vườn của nữ hoàng Udumbarika dành cho du sĩ đoàn, để thăm du sĩ Nigrodha.” Và gia chủ Sandhana đi đến vườn của nữ hoàng Undumbarika dành cho du sĩ đoàn để thăm du sĩ Nigrodha.

2. Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha đang ngồi với đại hội chúng du sĩ, tất cả đều ồn ào nói chuyện, cao giọng lớn tiếng, bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng thế giới, hiện trạng đại dương, câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu.

3. Dũ sĩ Nigrodha thấy gia chủ Sandhana từ đàng xa đến, liền dặn hội chúng của mình:

− Các Tôn giả hãy giữ im lặng, các Tôn giả chớ có làm ồn! Ðệ tử Sa môn Gotama, gia chủ Sandhana đang đi đến. Trong hàng đệ tử Sa môn Gotama, các hàng cư sĩ, mặc áo trắng, trú tại Vương Xá, gia chủ Sandhana là một vị trong đoàn thể ấy. Các vị này ưa sự an tịnh, các vị này được huấn luyện trong sự an tịnh, các vị này tán thán sự an tịnh. Nếu được biết hội chúng này an tịnh, Sandhana có thể đến đây.

Khi nghe nói vậy, các vị du sĩ đều giữ yên lặng.

4. Rồi gia chủ Sandhana đến tại chỗ của du sĩ Nigrodha, khi đến nơi, nói lên những lời chúc tụng, viếng thăm xã giao rồi ngồi với du sĩ Nigrodha:

− Thật sự khác thay, khi các Tôn giả ngoại đạo, các du sĩ này hội họp lại, quy tụ lại, ồn ào, cao giọng lớn tiếng, họ sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích như câu chuyện về vua chúa… câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Thật sai khác thay, Thế Tôn an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng động, có gió đồng thổi, lánh xa mắt người đời, thích hợp cho sự tịnh tu.

5. Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha nói với gia chủ Sandhana:

− Gia chủ có biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai? Ðối thoại với ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài. Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ. Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến vấn đề ngoại biên. Này gia chủ, nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi chúng tôi có thể chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ, chúng tôi có thể lăn tròn Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không.

6. Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh hơn người, nghe được câu chuyện giữa gia chủ Sandhana với du sĩ Nigrodha. Rồi Thế Tôn từ núi Gijjhakùtà bước xuống, đi đến vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, bên bờ sông Sumàgaghà, khi đến nơi liền đi qua lại giữa trời. Du sĩ Nigrodha thấy Thế Tôn đi qua lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, trên bờ sông Sumàgadhà, khi thấy vậy liền dặn dò hội chúng:

− Các Tôn giả hãy giữ im lặng; các Tôn giả chớ có làm ồn; Sa môn Gotama này đang đi lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước trên bờ sông Sumàgadhà. Vị tôn giả này ưa an tịnh, tán thán sự an tịnh, nếu biết được hội chúng này an tịnh, chúng tôi nghĩ, Sa môn Gotama có thể đến đây. Nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi câu hỏi này: “Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào Thế Tôn muốn dạy các đệ tử, với Pháp nào các đệ tử của Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc, và xác nhận là căn bản phạm hạnh?”

Khi được nói vậy, các vị du sĩ ấy giữ im lặng.

2. Thuyết về sự chán ghét và ép xác (Tapojigucchāvāda)

Sau đó, Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Nigrodha. Du sĩ Nigrodha liền thưa với Thế Tôn: “Xin mời đến, bạch Thế Tôn, chào mừng Thế Tôn. Đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Xin Thế Tôn hãy ngồi, đây là chỗ ngồi đã được dọn sẵn”. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã dọn sẵn. Du sĩ Nigrodha cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống một bên. Khi du sĩ Nigrodha đã ngồi một bên, Thế Tôn nói với ông: “Này Nigrodha, các ông đang ngồi đây bàn luận về câu chuyện gì, và câu chuyện gì của các ông đang bị bỏ dở?”

Khi được hỏi như vậy, du sĩ Nigrodha thưa với Thế Tôn: “Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng tôi trông thấy Thế Tôn đang đi kinh hành ngoài trời tại bãi cho công ăn bên bờ hồ Sumāgadhā, thấy vậy chúng tôi liền nói: 'Nếu sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi ông ấy câu hỏi này: “Bạch Thế Tôn, Điều dạy mà Thế Tôn dạy các đệ tử là gì, để khi các đệ tử được Thế Tôn dạy, họ có thể xác nhận đạt được sự an ổn, đến cốt lõi của đời sống thánh thiện ?” Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện đang bị bỏ dở của chúng tôi; thì Thế Tôn vừa đến”.

“Này Nigrodha, thật khó cho ông – một người có quan điểm khác, có niềm tin khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có đạo sư khác – có thể hiểu được Điều dạy mà qua đó Ta dạy các đệ tử là gì, để khi các đệ tử được Ta dạy, họ có thể xác nhận đạt được sự an ổn, đến cốt lõi của đời sống thánh thiện ?'. Này Nigrodha, hãy hỏi Ta một câu hỏi về chính học thuyết của ông, về sự ép xác khổ hạnh (khổ hạnh / tapojigucchā): ‘Bạch Thế Tôn, sự ép xác khổ hạnh như thế nào là trọn vẹn, như thế nào là không trọn vẹn?’”

Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy trở nên ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ: “Thật kỳ diệu thay, thưa các tôn giả, thật phi thường thay, thưa các tôn giả, về thần lực lớn và uy lực lớn của sa-môn Gotama, khi ông ấy gác lại học thuyết của mình và mời gọi thảo luận về học thuyết của người khác”.

Sau đó, du sĩ Nigrodha làm cho các du sĩ ấy im lặng và thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng tôi là những người tuyên thuyết về sự ép xác khổ hạnh, coi sự ép xác khổ hạnh là cốt lõi, bám sát vào sự ép xác khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, sự ép xác khổ hạnh như thế nào là trọn vẹn, như thế nào là không trọn vẹn?”

"Ở đây, này Nigrodha, một người tu khổ hạnh sống trần truồng, phóng uế bừa bãi, liếm tay cho sạch, không nhận thức ăn khi được gọi ‘hãy đến, thưa ngài’, không nhận thức ăn khi được gọi ‘hãy đứng lại, thưa ngài’, không nhận thức ăn mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời ăn; người ấy không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng rổ, không nhận thức ăn qua ngưỡng cửa, không nhận thức ăn qua cây gậy, không nhận thức ăn qua chày giã gạo, không nhận thức ăn từ hai người đang ăn, không nhận thức ăn từ phụ nữ có thai, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận thức ăn từ nơi phân phát tập thể, không nhận thức ăn ở nơi có chó đứng đợi, không nhận thức ăn ở nơi ruồi bu thành đàn; người ấy không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu lên men, không uống nước cháo chua. Người ấy nhận thức ăn từ một nhà và ăn một miếng, hoặc nhận thức ăn từ hai nhà và ăn hai miếng, hoặc nhận thức ăn từ bảy nhà và ăn bảy miếng; người ấy sống bằng một bát nhỏ, sống bằng hai bát nhỏ, sống bằng bảy bát nhỏ; người ấy ăn một ngày một lần, ăn hai ngày một lần, ăn bảy ngày một lần, cứ như vậy người ấy sống theo thực hành ăn nửa tháng một lần. Người ấy ăn rau cỏ, ăn lúa hoang, ăn lúa nếp hoang, ăn vụn da, ăn rêu nước, ăn cám, ăn váng cháo, ăn bã vừng, ăn cỏ, ăn phân bò; người ấy sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn những trái cây tự rụng. Người ấy mặc áo bằng gai, mặc áo bằng vải gai pha, mặc áo bọc tử thi, mặc áo nhặt từ đống rác, mặc áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng da linh dương, mặc áo bằng da linh dương còn nguyên móng, mặc áo bằng cỏ kusa, mặc áo bằng dải vỏ cây, mặc áo bằng những mảnh gỗ, mặc áo bằng tóc người, mặc áo bằng lông đuôi ngựa, mặc áo bằng lông chim cú; người ấy nhổ tóc và râu, chuyên tâm thực hành việc nhổ tóc và râu; người ấy đứng liên tục, từ chối chỗ ngồi; người ấy ngồi xổm, chuyên tâm thực hành việc ngồi xổm; người ấy nằm trên gai, dọn chỗ nằm trên gai; người ấy dọn chỗ nằm trên ván gỗ; người ấy dọn chỗ nằm trên đất trần; người ấy nằm nghiêng một bên, mang đầy bụi bẩn; người ấy sống ngoài trời, ngồi bất cứ nơi nào có thể; người ấy ăn phân, chuyên tâm thực hành việc ăn phân; người ấy không uống nước, chuyên tâm thực hành việc không uống nước; người ấy chuyên tâm thực hành việc xuống nước ba lần mỗi ngày (sáng, trưa, tối).

Ông suy diễn (nghĩ đến / maññati) thế nào, này Nigrodha, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là trọn vẹn hay không trọn vẹn?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là trọn vẹn, không phải là không trọn vẹn.”

“Ngay cả khi sự ép xác khổ hạnh trọn vẹn như vậy, này Nigrodha, Ta nói rằng nó vẫn có nhiều loại nhiễm bẩn khác (tùy phiền não / upakkilesa).”

7. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đến tại chỗ du sĩ Nigrodha ở. Và du sĩ Nigrodha nói với Thế Tôn như sau:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến đây; xin đón mừng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, đã lâu Thế Tôn mới có dịp đến đây; bạch Thế Tôn, xin mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.

Thế Tồn ngồi xuống chỗ ngồi đã soạn sẵn. Du sĩ Nigrodha lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Nigrodha đang ngồi xuống một bên:

− Này Nigrodha, Quí vị đang ngồi bàn luận vấn đề gì? Vấn để gì đang nói giữa quí vị thì bị dừng lại?

Khi được nói vậy, du sĩ Nigrodha bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con thấy Thế Tôn đang đi qua lại, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, trên bờ sông Sumagadha. Khi thấy vậy, chúng con nói: “Nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi câu hỏi:” Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào Thế Tôn huấn dạy các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh?” Bạch Thế Tôn, đó là vấn đề đang được bàn luận giữa chúng con, thì được dừng lại khi Thế Tôn đến.

− Này Nigrodha, thật khó cho Ngươi, khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu khác, theo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để hiểu được Pháp nào Ta huấn dạy các đệ tử của Ta, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh. Này Nigrodha, hãy hỏi về tối thắng khổ hạnh theo truyền thống của Ngươi: “Bạch Thế Tôn, thế nào là sự thành tựu của khổ hạnh, thế nào là sự không thành tựu?”

Khi nghe nói vậy, các Du sĩ ngoại đạo liền lớn tiếng, cao giọng la: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, đại thần lực và đại uy lực của Sa môn Gotama! Ngài không đề cập đến giáo lý của mình, lại đề nghị thảo luận giáo lý của người khác.”

8. Du sĩ Nigrodha bảo các du sĩ ấy im lặng rồi bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng con sống thuyết giảng về khổ hạnh, xem khổ hạnh là căn bản, chấp trì khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, thế nào là sự thành tựu khổ hạnh? Thế nào là sự không thành tựu khổ hạnh? − Này Nigrodha, ở đây có người tu khổ hạnh, sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận lời mời đi ăn, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống nước nấu rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà hay chỉ nhận ăn một miếng, chỉ nhận ăn tại bảy nhà hay chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị này chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột vải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, ăn nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các khác vải khác, mặc vải tẩm liệm đã quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vải vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người sống theo tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, không ngồi, là người ngồi chỏ hỏ; sống theo hạnh ngồi chỏ hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che kín thân mình, sống và ngủ ngoài trời; theo hạnh bạ đâu nằm đầy, sống ăn các uế vật; theo hạnh ăn các uế vật, sống không uống các nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Như vậy có phải là thành tựu các pháp khổ hạnh hay không thành tựu?

− Bạch Thế Tôn, như vậy là thành tựu các pháp khổ hạnh, không phải không thành tựu.

− Này Nigrodha, sự thành tựu khổ hạnh như vậy, Ta nói rằng sẽ đưa đến nhiều loại cấu uế.

2.1. nhiễm bẩn khác (Upakkilesa)

“Nhưng thưa Thế Tôn, làm thế nào Thế Tôn lại nói rằng sự ép xác khổ hạnh trọn vẹn như vậy lại có nhiều loại nhiễm bẩn khác?”

"Ở đây, này Nigrodha, một người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, người ấy hoan hỷ với sự khổ hạnh đó và cảm thấy thỏa mãn ý định. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, hoan hỷ với sự khổ hạnh đó và cảm thấy thỏa mãn ý định. Đó là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy say sưa, đắm chìm và rơi vào mê muội (phóng dật / pamāda). Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó say sưa, đắm chìm và rơi vào mê muội. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; người ấy hoan hỷ với lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó và cảm thấy thỏa mãn ý định. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng, hoan hỷ với lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó và cảm thấy thỏa mãn ý định. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng, nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó người ấy say sưa, đắm chìm và rơi vào mê muội. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng, nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó say sưa, đắm chìm và rơi vào mê muội. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh phân biệt đối xử trong thức ăn: ‘Cái này hợp với tôi, cái này không hợp với tôi’. Những gì không hợp, người ấy từ chối với sự luyến tiếc. Những gì hợp, người ấy ăn một cách tham lam, đắm chìm, dính mắc, không thấy rõ sự nguy hiểm, không có trí tuệ để thoát ra […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh vì khao khát lợi lộc, tôn kính và danh tiếng: ‘Các vua chúa, đại thần, sát-đế-lỵ, bà-la-môn, gia chủ, và các ngoại đạo sẽ tôn kính ta’ […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh chê bai một sa-môn hay bà-la-môn khác: ‘Kẻ này sống bằng đủ thứ, ăn đủ mọi thứ. Như—hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và hạt giống từ chính hạt giống là thứ năm; kẻ này nhai nát bằng răng như sấm sét, thế mà lại tự xưng là sa-môn’ […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thấy một sa-môn hay bà-la-môn khác được các gia đình tôn kính, kính trọng, quý mến, cúng dường. Thấy vậy, người ấy nghĩ: ‘Kẻ sống bằng đủ thứ này lại được các gia đình tôn kính, kính trọng, quý mến, cúng dường. Còn ta là người tu khổ hạnh, sống kham khổ, thì các gia đình không tôn kính, không kính trọng, không quý mến, không cúng dường’. Thế là người ấy sinh ra lòng ganh tị và keo kiệt đối với các gia đình […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh ngồi ở nơi dễ bị nhìn thấy […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh đi dạo giữa các gia đình, phô trương bản thân: ‘Đây là một phần khổ hạnh của tôi, đây là một phần khổ hạnh của tôi’ […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành một điều gì đó lén lút. Khi được hỏi: ‘Điều này có hợp với ông không?’, nếu không hợp, người ấy nói: ‘Hợp’. Nếu hợp, người ấy nói: ‘Không hợp’. Như vậy người ấy cố ý nói dối […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử của Như Lai đang giảng dạy Điều dạy (pháp), người tu khổ hạnh không công nhận một phương pháp đúng đắn đáng được công nhận […lặp lại…] Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh hay tức giận và hận thù. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh hay tức giận và hận thù. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh. Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh hay chê bai và ganh ghét […lặp lại…] hay đố kỵ và keo kiệt … hay gian xảo và lừa dối … hay cứng đầu và kiêu ngạo … có những mong muốn xấu xa và bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa … có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi) và bị trói buộc bởi những quan điểm cực đoan … bám chặt vào quan điểm của mình, cố chấp và khó buông bỏ. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh bám chặt vào quan điểm của mình, cố chấp và khó buông bỏ. Đó cũng là một nhiễm bẩn khác của người tu khổ hạnh.

Ông suy diễn thế nào, này Nigrodha, những điều này là nhiễm bẩn khác của sự ép xác khổ hạnh hay không phải là nhiễm bẩn khác?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, những điều này là nhiễm bẩn khác của sự ép xác khổ hạnh, không phải là không. Bạch Thế Tôn, hoàn toàn có khả năng một người tu khổ hạnh ở đây có thể mang đầy đủ tất cả những nhiễm bẩn khác này; huống hồ chi là có một vài điều trong số đó.”

− Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn nói rằng sự thành tựu khổ hạnh như vậy sẽ đưa đến nhiều loại cấu uế?

− Này Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy hoan hỷ tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, vị khổ hạnh do siêng tu khổ hạnh, phát sanh hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ hành này, vị này khen mình chê người. Này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy khen mình chê người. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ hạnh này trở thành mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, vị tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

10. Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được thọ lãnh cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào; do khổ hạnh ấy được thọ lãnh cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, như vậy đó là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, nên khen mình chê người. Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng này, nên khen mình chê người. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành mê say, chấp trước, phóng dật. Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng này, trở thành mê say, chấp trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, phân biệt các thức ăn: “Món này thích hợp với ta, món này không thích hợp với ta.” Ðối với các thức ăn không thích hợp thì cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích hợp thì nắm giữ, tham đắm, chấp trước, không thấy các sự nguy hiểm, không phân biệt chúng là không giải thoát, thọ hưởng chúng… Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, nhân vì mong mỏi được cúng dường cung kính danh vọng, nghĩ rằng: “Các vua chúa sẽ cung kính ta, cũng vậy các vị đại thần, các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các vị Gia chủ, các vị Giáo chủ các giáo phái”. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

11. Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh chống báng một Sa môn hay Bà la môn khác như sau: “Người này sống ăn uống đủ mọi thứ. Như hạt giống từ rể sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền chúng tất cả với tầm sét không bánh xe được gọi là xương quai hàm và người ta gọi vị ấy là một vị Sa môn. Này Nigrodha, như vậy, là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa này Nigrodha, người khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà la môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường. Thấy vậy vị ấy nghĩ rằng: “Các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn uống đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường ta, một người tu khổ hạnh. Do vậy sanh tật đố, ganh ghét đối với các gia đình. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh trở thành người ngồi giữa công chúng. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình (để khất thực) không cho người ta thấy mình: “Như vậy là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh của ta.”. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh làm bộ có vẻ bí mật. Khi được hỏi: “Có chấp nhận việc này không?”, tuy không chấp nhận nhưng trả lời: “Có chấp nhận”; tuy chấp nhận, nhưng trả lời: “Không chấp nhận.” Như vậy, vị này cố tình nói láo. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

12. Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận thì người khổ hạnh không chấp nhận. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh hay tức giận và ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh hay tức giận và ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh thường hay giả dối lừa đảo, tật đố và hà tiện, giảo hoạt và ngụy trá, cứng cỏi và quá mạn, có ác ý và bị ác ý cho phối, có tà kiến và tư tưởng cực đoan, chấp trước kinh nghiệm tự thân, cứng đầu và khó giải thoát. Này Nigrodha, vì một người khổ hạnh chấp trước kinh nghiệm tự thân, cứng đầu và khó giải thoát. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.

Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự thật là như vậy thì những khổ hạnh có phải là cấu uế hay không cấu uế?

− Bạch Thế Tôn, những khổ hạnh như vậy thật là cấu uế, không phải cấu uế. Sự tình này có thể xảy ra, có người khổ hạnh có đầy đủ tất cả sự cấu uế trên, nói gì đến câu có cấu uế này hay cấu uế khác.

2.2. Đạt đến lớp vỏ ngoài thanh tịnh (Parisuddhapapaṭikappattakathā)

"Ở đây, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, người ấy không hoan hỷ với sự khổ hạnh đó và không cảm thấy thỏa mãn ý định. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, không hoan hỷ với sự khổ hạnh đó và không cảm thấy thỏa mãn ý định. Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy không say sưa, không đắm chìm và không rơi vào mê muội […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; người ấy không hoan hỷ với lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó và không cảm thấy thỏa mãn ý định […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thọ trì sự khổ hạnh, nhờ sự khổ hạnh đó người ấy tạo ra lợi lộc, tôn kính và danh tiếng; nhờ lợi lộc, tôn kính và danh tiếng đó người ấy không say sưa, không đắm chìm và không rơi vào mê muội […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không phân biệt đối xử trong thức ăn: ‘Cái này hợp với tôi, cái này không hợp với tôi’. Những gì không hợp, người ấy từ bỏ mà không luyến tiếc. Những gì hợp, người ấy ăn mà không tham lam, không đắm chìm, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hiểm, có trí tuệ để thoát ra […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không thọ trì sự khổ hạnh vì khao khát lợi lộc, tôn kính và danh tiếng: ‘Các vua chúa, đại thần, sát-đế-lỵ, bà-la-môn, gia chủ, và các ngoại đạo sẽ tôn kính ta’ […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không chê bai một sa-môn hay bà-la-môn khác: ‘Kẻ này sống bằng đủ thứ, ăn đủ mọi thứ. Như—hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và hạt giống từ chính hạt giống là thứ năm; kẻ này nhai nát bằng răng như sấm sét, thế mà lại tự xưng là sa-môn’ […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thấy một sa-môn hay bà-la-môn khác được các gia đình tôn kính, kính trọng, quý mến, cúng dường. Thấy vậy, người ấy không nghĩ: ‘Kẻ sống bằng đủ thứ này lại được các gia đình tôn kính, kính trọng, quý mến, cúng dường. Còn ta là người tu khổ hạnh, sống kham khổ, thì các gia đình không tôn kính, không kính trọng, không quý mến, không cúng dường’. Thế là người ấy không sinh ra lòng ganh tị và keo kiệt đối với các gia đình […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không ngồi ở nơi dễ bị nhìn thấy […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không đi dạo giữa các gia đình, phô trương bản thân: ‘Đây là một phần khổ hạnh của tôi, đây là một phần khổ hạnh của tôi’ […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không thực hành một điều gì đó lén lút. Khi được hỏi: ‘Điều này có hợp với ông không?’, nếu không hợp, người ấy nói: ‘Không hợp’. Nếu hợp, người ấy nói: ‘Hợp’. Như vậy người ấy không cố ý nói dối […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử của Như Lai đang giảng dạy Điều dạy, người tu khổ hạnh công nhận một phương pháp đúng đắn đáng được công nhận […lặp lại…] Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không tức giận và không hận thù. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không tức giận và không hận thù, như vậy người ấy trong sạch ở điểm này. Hơn nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không chê bai và không ganh ghét […lặp lại…] không đố kỵ và không keo kiệt … không gian xảo và không lừa dối … không cứng đầu và không kiêu ngạo … không có những mong muốn xấu xa và không bị chi phối bởi những mong muốn xấu xa … không có quan điểm sai và không bị trói buộc bởi những quan điểm cực đoan … không bám chặt vào quan điểm của mình, không cố chấp và dễ buông bỏ. Bất cứ khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không bám chặt vào quan điểm của mình, không cố chấp và dễ buông bỏ. Như vậy người ấy trong sạch ở điểm này.

Ông suy diễn thế nào, này Nigrodha, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh, không phải là không thanh tịnh, đã đạt đến đỉnh cao (tối thượng / aggappattā) và đạt đến phần cốt lõi (lõi cây / sārappattā).”

“Này Nigrodha, sự ép xác khổ hạnh ở mức độ này, chưa phải là đạt đến đỉnh caophần cốt lõi; mà nó chỉ mới đạt đến lớp vỏ ngoài (giác mộc / papaṭikappattā).”

13. - Này Nigrodha, ở đây người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không thỏa mãn. Này Nigrodha người khổ hạnh, tu khổ hạnh này, vì khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không thỏa mãn. Như vậy vị ấy đưựoc thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không khen mình chê người… Như vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không mê say, không nhiềm trước, không phóng dật. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy được cúng đường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không hoan hỷ; tâm tư không thỏa mãn. Này Nigrodha, người khổ hạnh… Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không khen mình chê người. Này Nigrodha, người khổ hạnh… Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, người khổ hạnh… Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh, không phân biệt các thức ăn: “Món này thích hợp với ta, món này không hợp với ta.” Ðối với các thức ăn không thích hợp, vị ấy không cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích hợp, vị ấy không nắm giữ, tham đắm, chấp trước, thấy các sự nguy hiểm, phân biệt chúng là không giải thoát, không thọ hưởng chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Vị ấy không nghĩ rằng: “Vì mong mỏi được cúng dường, cung kính, danh vọng, các vua chúa sẽ cung kính ta; cũng vậy các vị đại thần, các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các vị Gia chủ, các vị Giáo chủ các giáo phái.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

14. Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không chống báng một vị Sa môn hay Bà la môn khác: “Người này sống ăn đủ mọi thứ. Như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhành cây sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền chúng tất cả, với tầm sét không bánh xe được gọi là xương quai hàm. Và người ta gọi vị ấy là vị Sa môn. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này. Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà là môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường. Thấy vậy, vị ấy không nghĩ rằng: “Các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn uống đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính trọng, lễ bái, cũng dường ta, một người tu khổ hạnh.” Do vậy vị ấy không sanh tật đố, ganh ghét đối với các gia đình. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không trở thành người ngồi giữa công chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình (để khất thực), không dấu diếm mà để cho người ta thấy mình: “Như vậy là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh của ta.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không làm bộ có vẻ bí mật. Khi được hỏi: “Có chấp nhận điều này không?” Nếu không chấp nhận thì trả lời: “Không chấp nhận.”; nếu có chấp nhận thì trả lời: “Có chấp nhận.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

15. Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận, thì vị khổ hạnh chấp nhận. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không tức giận và không ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh không tức giận và không ôm lòng oán thù, như vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không giả dối và lừa đảo, không tật đố và hà tiện, không giảo hoạt và ngụy trá, không cứng cỏi và quá mạn, khôg có ác ý và bị ác ý chí phối, không có tà kiến và tư tưởng cực đoan, không chấp trước kinh nghiệm tự thân, không cứng đầu và khó giải thoát. Vì người khổ hạnh không chấp trước kinh nghiệm tự thân và không cứng đầu khó giải thoát, nên vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.

Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các khổ hạnh ấy là thanh tịnh hay không thanh tịnh?

− Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh ấy là thanh tịnh, không phải phải không thanh tịnh; các khổ hạnh ấy đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, những khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ mới đạt đến vỏ bên ngoài mà thôi.

2.3. Đạt đến lớp vỏ trong thanh tịnh (Parisuddhatacappattakathā)

“Vậy đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, sự ép xác khổ hạnh mới đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi? Tốt thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đưa sự ép xác khổ hạnh của tôi đạt đến đỉnh cao, đạt đến phần cốt lõi.”

"Ở đây, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế (tứ uẩn cấm giới / cātuyāmasaṁvarasaṁvuto). Và thế nào, này Nigrodha, là người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế? Ở đây, này Nigrodha, người tu khổ hạnh không tự mình giết hại sinh mệnh, không sai bảo người khác giết hại sinh mệnh, không đồng tình với việc giết hại sinh mệnh. Không tự mình lấy của không cho, không sai bảo người khác lấy của không cho, không đồng tình với việc lấy của không cho. Không tự mình nói dối, không sai bảo người khác nói dối, không đồng tình với việc nói dối. Không tự mình khao khát những thứ đáng khao khát, không sai bảo người khác khao khát, không đồng tình với việc khao khát. Như vậy, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế.

Khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế, thì đó là bản chất khổ hạnh của người ấy. Người ấy tiến lên phía trước, không quay lại sự thấp kém. Người ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ: rừng núi, gốc cây, vách đá, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự chú tâm (niệm / sati) trước mặt. Người ấy từ bỏ (đoạn trừ / pajahati) lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, thanh lọc tâm trí khỏi lòng tham. Từ bỏ ác ý hãm hại, sống với tâm không ác ý, có lòng thương xót vì lợi ích của mọi sinh vật, thanh lọc tâm trí khỏi ác ý hãm hại. Từ bỏ uể oải và buồn ngủ, sống thoát khỏi uể oải và buồn ngủ, nhận biết ánh sáng, có sự chú tâm (niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), thanh lọc tâm trí khỏi uể oải và buồn ngủ. Từ bỏ bồn chồn và hối hận, sống không bồn chồn, tâm tĩnh lặng bên trong, thanh lọc tâm trí khỏi bồn chồn và hối hận. Từ bỏ nghi ngờ, sống vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện (thiện pháp / kusalesu dhammesu), thanh lọc tâm trí khỏi nghi ngờ.

Sau khi từ bỏ Năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇe) này – những nhiễm bẩn khác của tâm làm suy yếu trí tuệ – người ấy sống lan tỏa tâm đi kèm với Tâm yêu thương (từ / mettā) đến một phương. Phương thứ hai cũng vậy. Phương thứ ba cũng vậy. Phương thứ tư cũng vậy. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, vì lợi ích của tất cả, người ấy sống lan tỏa tâm đi kèm với Tâm yêu thương biến mãn toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn (vô lượng / appamāṇa), không hận thù, không ác ý. Với tâm đi kèm với Tâm thông cảm (bi / karuṇā) […lặp lại…] Với tâm đi kèm với Tâm cùng vui (hỷ / muditā) […lặp lại…] Với tâm đi kèm với Tâm bình thản (xả / upekkhā) lan tỏa đến một phương. Phương thứ hai cũng vậy. Phương thứ ba cũng vậy. Phương thứ tư cũng vậy. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, vì lợi ích của tất cả, người ấy sống lan tỏa tâm đi kèm với Tâm bình thản biến mãn toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý.

Ông suy diễn thế nào, này Nigrodha. Nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh, không phải là không thanh tịnh, đã đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi.”

“Này Nigrodha, sự ép xác khổ hạnh ở mức độ này, chưa phải là đạt đến đỉnh caophần cốt lõi;mà nó chỉ mới đạt đến lớp vỏ trong (vỏ cây / tacappattā).”

16. - Bạch Thế Tôn, như thế nào các khổ hạnh đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn, thật tốt đẹp thay, nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của chúng con đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, ở đây, có vị khổ hạnh tu bốn pháp chế ngự. Và này Nigrodha, thế nào là bốn pháp chế ngự? Này Nigrodha, vị khổ hạnh không có tự sát sanh, không có bảo người khác sát sanh, không có tùy hỷ sát sanh; không có lấy của không cho, không có khiến người khác lấy của không cho, không có tùy hỷ lấy của không cho, không có nói láo, không có khiến người khác nói láo, không có tán thán nói láo; không có tham vọng dục tình, không có khiến người khác có tham vọng dục tình, không có tán thán tham vọng dục tình. Như vậy, này Nigrodha người khổ hạnh ấy tu hành bốn pháp chế ngự. Này Nigrodha, do người khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, sự khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, vị ấy tiến lên, chớ không rơi xuống hạ phẩm.

Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như ngôi rừng, gốc cây, trên khe núi, trong hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, hay đống rơm. Sau khi ăn xong đi khất thực về, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, an trú với tâm thoát ly tham ái, gột sạch tâm hết tham ái. Từ bỏ sân tâm, an trú với tâm thoát ly sân tâm, khởi lòng thương tưởng mọi loài chúng sanh, gột sạch tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, an trú với tâm thoát ly hôn trầm thụy miên, tưởng niệm đến ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo hối, an trú tâm thoát ly trạo hối, nội tâm an tịnh, gột sạch tâm hết trạo hối. Từ bỏ nghi hoặc, an trú với tâm thoát ly nghi ngờ, không còn nghi hoặc, gột sạch tâm không còn nghi ngờ đối với các thiện pháp.

17. Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu uế giảm nhẹ, vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?

− Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chỉ đạt đến ngoài vỏ thôi.

2.4. Đạt đến phần gỗ ngoài thanh tịnh (Parisuddhaphegguppattakathā)

“Vậy đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, sự ép xác khổ hạnh mới đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi? Tốt thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đưa sự ép xác khổ hạnh của tôi đạt đến đỉnh cao, đạt đến phần cốt lõi.”

"Ở đây, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế. Và thế nào, này Nigrodha, là người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế […lặp lại…] Khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế, thì đó là bản chất khổ hạnh của người ấy. Người ấy tiến lên phía trước, không quay lại sự thấp kém. Người ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ […lặp lại…] Sau khi từ bỏ Năm điều làm mờ yếu này – những nhiễm bẩn khác của tâm làm suy yếu trí tuệ – người ấy sống lan tỏa tâm đi kèm với Tâm yêu thương […lặp lại…] tâm đi kèm với Tâm thông cảm […lặp lại…] tâm đi kèm với Tâm cùng vui […lặp lại…] tâm đi kèm với Tâm bình thản biến mãn toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý.

Người ấy nhớ lại các đời sống quá khứ đa dạng, Như—một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm cảm giác dễ chịu (thọ lạc / sukha) và cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkha) như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết ở đó, ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm cảm giác dễ chịucảm giác khó chịu như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết ở đó, ta sinh ra ở đây’. Như vậy, người ấy nhớ lại các đời sống quá khứ đa dạng cùng với các chi tiết và bối cảnh.

Ông suy diễn thế nào, này Nigrodha, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh, không phải là không thanh tịnh, đã đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi.”

“Này Nigrodha, sự ép xác khổ hạnh ở mức độ này, chưa phải là đạt đến đỉnh caophần cốt lõi;mà nó chỉ mới đạt đến phần gỗ ngoài (lõi non / phegguppattā).”

18. - Bạch Thế Tôn, những khổ hạnh phải như thế nào mới đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Lành thay, nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Và như thế nào… như vậy, này Nigrodha, vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Này Nigrodha, do vị khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, sự khổ hạnh của vị ấy là như vậy, vị ấy tiến lên chớ không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng… Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ… quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn tâm hướng đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ ấy, ta được sanh ra ở đây.” Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?

− Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, và đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ đạt đến phía gỗ xung quanh lõi mà thôi.

3. Đạt đến phần lõi thanh tịnh (Parisuddhaaggappattasārappattakathā)

“Vậy đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, sự ép xác khổ hạnh mới đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi? Tốt thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đưa sự ép xác khổ hạnh của tôi đạt đến đỉnh cao, đạt đến phần cốt lõi.”

"Ở đây, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế. Và thế nào, này Nigrodha, là người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế […lặp lại…] Khi nào, này Nigrodha, người tu khổ hạnh được bảo vệ bằng bốn sự kiềm chế, thì đó là bản chất khổ hạnh của người ấy. Người ấy tiến lên phía trước, không quay lại sự thấp kém. Người ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ […lặp lại…] Sau khi từ bỏ Năm điều làm mờ yếu này – những nhiễm bẩn khác của tâm làm suy yếu trí tuệ – người ấy sống lan tỏa tâm đi kèm với Tâm yêu thương […lặp lại…] tâm đi kèm với Tâm bình thản biến mãn toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Người ấy nhớ lại các đời sống quá khứ đa dạng. Như—một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời […lặp lại…] Như vậy, người ấy nhớ lại các đời sống quá khứ đa dạng cùng với các chi tiết và bối cảnh.

Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt xa khả năng của con người, người ấy thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, hạnh phúc và đau khổ; người ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo nghiệp của mình: ‘Những chúng sinh này có hành vi xấu xa về thân, hành vi xấu xa về lời nói, hành vi xấu xa về ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai, hành động theo quan điểm sai. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Còn những chúng sinh này có hành vi tốt đẹp về thân, hành vi tốt đẹp về lời nói, hành vi tốt đẹp về ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có Nhìn Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi), hành động theo Nhìn Thấy Thiện. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi lành, cõi trời’. Như vậy, với mắt thần thanh tịnh, vượt xa khả năng của con người, người ấy thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, hạnh phúc và đau khổ; người ấy thấy rõ các chúng sinh đi theo nghiệp của mình.

Ông suy diễn thế nào, này Nigrodha, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?"

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, nếu như vậy, sự ép xác khổ hạnh là thanh tịnh, không phải là không thanh tịnh, đã đạt đến đỉnh caođạt đến phần cốt lõi.”

"Đến mức độ này, này Nigrodha, sự ép xác khổ hạnh đã đạt đến đỉnh caophần cốt lõi. Như vậy, này Nigrodha, điều mà ông đã hỏi Ta: ‘huấn luyện các đệ tử’. Đây chính là điểm cao tột hơn và vi diệu hơn, mà qua đó Ta dạy các đệ tử, để khi các đệ tử được Ta dạy như vậy, họ có thể xác nhận đạt được sự an ổn, đến cốt lõi của đời sống thánh thiện "

Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy trở nên ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ: “Ở đây, chúng tôi và các đạo sư của chúng tôi đã thất bại, chúng tôi không biết điều gì cao tột hơn thế này nữa”.

19. - Bạch Thế Tôn, các khổ hạnh phải như thế nào mới đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt được tối thượng và đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, ở đây vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Và thế nào… Như vậy, này Nigrodha, vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự, Này Nigrodha, do vị khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, vị ấy tiến lên chứ không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng… Tà bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho tâm cấu uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ… Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn tâm hướng đến Túc mạng minh, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời… Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. “Này các Hiền giả, những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phê phán các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này”. Như vậy vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?

− Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.

− Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản. Này Nigrodha, như Ngươi hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào, Thế Tôn muốn dạy các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử của Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh?” Này Nigrodha, Ta nói rằng thật là một vấn đề cao thượng hơn và thuần nhất hơn mà Ta huấn dạy các đệ tử, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh.

Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy lớn tiếng cao giọng ồn ào nói lớn:

− Ở đây, các Tôn sư của chúng hoàn toàn bất lực. Chúng ta không biết gì tốt hơn và cao hơn lời dạy của họ.

4. Sự bối rối của Nigrodha (Nigrodhassapajjhāyana)

Khi gia chủ Sandhāna nhận ra: “Chắc chắn bây giờ các du sĩ ngoại đạo này đang muốn nghe lời dạy của Thế Tôn, họ đang lắng tai nghe, họ đang hướng tâm đến sự hiểu biết”.

Sau đó, ông nói với du sĩ Nigrodha: “Thưa tôn giả Nigrodha, ngài đã nói với tôi là: ‘Này gia chủ, ông có biết sa-môn Gotama nói chuyện với ai, thảo luận với ai, đàm đạo trí tuệ với ai không? Trí tuệ của sa-môn Gotama bị phá hủy trong ngôi nhà trống, sa-môn Gotama không quen tiếp xúc với hội chúng, không đủ khả năng đàm luận, ông ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh; giống như một con bò chột mắt chỉ đi lang thang ở vùng rìa, lui tới những nơi hẻo lánh. Cũng vậy, trí tuệ của sa-môn Gotama bị phá hủy trong ngôi nhà trống, sa-môn Gotama không quen tiếp xúc với hội chúng, không đủ khả năng đàm luận; ông ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh; này gia chủ, nếu sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng tôi sẽ đánh bại ông ấy chỉ bằng một câu hỏi duy nhất, chúng tôi sẽ lăn ông ấy qua lại như một cái bình rỗng’. Nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đến đây, sao ngài không làm cho Ngài ấy không quen tiếp xúc với hội chúng, sao ngài không làm cho Ngài ấy thành con bò chột mắt đi lang thang ở vùng rìa, sao ngài không đánh bại Ngài ấy bằng một câu hỏi duy nhất, sao ngài không lăn Ngài ấy qua lại như một cái bình rỗng?” Khi được nói như vậy, du sĩ Nigrodha im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, trầm ngâm, không thốt được lời nào.

Sau đó, Thế Tôn thấy du sĩ Nigrodha im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, trầm ngâm, không thốt được lời nào, liền nói với du sĩ Nigrodha: “Có thật là ông đã nói những lời như vậy không, này Nigrodha?”

“Thật sự con đã nói những lời như vậy, bạch Thế Tôn, như một kẻ ngu, như một kẻ lầm lạc, như một kẻ thiếu thiện xảo.”

“Ông suy nghĩ thế nào, này Nigrodha. Ông đã từng nghe các du sĩ trưởng lão, những người lớn tuổi, các đạo sư và thầy của các đạo sư nói rằng: ‘Những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, các Thế Tôn ấy cũng tụ tập, hội họp lại, ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ, tham gia vào nhiều loại câu chuyện vô ích. Như—chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp […lặp lại…] chuyện sự tồn tại và không tồn tại. Giống như ông và các đạo sư của ông hiện nay. Hay là các Thế Tôn ấy lui tới những chỗ ở xa xôi hẻo lánh trong rừng núi, ít tiếng ồn, ít âm thanh, vắng bóng người, ẩn khuất khỏi con người, thích hợp cho sự tĩnh tu, giống như Ta hiện nay?’”

“Con đã từng nghe điều này, bạch Thế Tôn. Các du sĩ trưởng lão, những người lớn tuổi, các đạo sư và thầy của các đạo sư nói rằng: ‘Những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, các Thế Tôn ấy không tụ tập, hội họp lại, ồn ào, lớn tiếng, ầm ĩ, tham gia vào nhiều loại câu chuyện vô ích. Như—chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp […lặp lại…] chuyện sự tồn tại và không tồn tại, giống như con và các đạo sư của con hiện nay. Các Thế Tôn ấy lui tới những chỗ ở xa xôi hẻo lánh trong rừng núi, ít tiếng ồn, ít âm thanh, vắng bóng người, ẩn khuất khỏi con người, thích hợp cho sự tĩnh tu, giống như Thế Tôn hiện nay’.”

“Là một người có hiểu biết và đã trưởng thành, này Nigrodha, sao ông không nghĩ rằng: ‘Thế Tôn ấy đã giác ngộ, Ngài giảng dạy Điều dạy để dẫn đến sự giác ngộ; Thế Tôn ấy đã được huấn luyện, Ngài giảng dạy Điều dạy để dẫn đến sự huấn luyện; Thế Tôn ấy đã tĩnh lặng, Ngài giảng dạy Điều dạy để dẫn đến sự tĩnh lặng; Thế Tôn ấy đã vượt qua, Ngài giảng dạy Điều dạy để dẫn đến sự vượt qua; Thế Tôn ấy đã hoàn toàn dập tắt, Ngài giảng dạy Điều dạy để dẫn đến sự hoàn toàn dập tắt’?”

20. Khi gia chủ Sandhàna biết được: “Nay các du sĩ ngoại đạo ấy đã bất đầu nghe, đã bắt đầu để tai, đã bắt đầu chú tâm vào lời Thế Tôn dạy”, liền nói với du sĩ Nigrodha:

− Này Tôn giả Nigrodha, Tôn giả nói với tôi như sau: “Gia chủ có biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai. Ðối thoại với ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi để điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài. Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi để điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Này Gia chủ, nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi, chúng tôi có thể chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể lăn tròn Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không.” Này Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến đây. Hãy nêu rõ Thế Tôn không thể điều khiển hội chúng, hãy chứng tỏ Thế Tôn như con bò một mắt, chỉ biết đi vòng xung quanh, với một câu hỏi, hãy chận đứng Thế Tôn lại, và làm cho Thế Tôn lăn tròn, như Tôn giả nghĩ, như một cái bình không.

Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha ngồi im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, gục đầu, ưu tư, câm miệng.

21. Thế Tôn khi biết được du sĩ Nigrodha im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, gục đầu, ưu tư, câm miệng như vậy, liền nói với du sĩ Nigrodha:

− Này Nigrodha, có phải Ngươi nói như vậy chăng?

− Bạch Thế Tôn, thật sự con có nói như vậy, thật là ngu ngốc, si ám và bất thiện.

− Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có bao giờ nghe các vị du sĩ niên cao, trưởng thượng, bậc Tổ sư truyền thống nói như sau: “Các vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội họp lại, quy tụ lại, ồn ào, cao giọng, lớn tiếng, chung sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm… câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu, như Ngươi và Sư trưởng của Ngươi hiện nay đang làm? Hay là những bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió đồng thổi, lánh xa mắt của người đời, thích hợp cho sự tĩnh tu, như hiện Ta đang sống chăng?

− Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị du sĩ niên cao, trưởng thượng, bậc Tổ sư truyền thống nói như sau: “Các vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác, trong quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội họp lại, quy tụ lại, thời không ồn ào, cao giọng, lớn tiếng, chung sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa… câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu”, như con và Sư trưởng của con đang làm. Những bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió đồng thổt, lánh xa mắt của người đời, thích hợp cho sự tịnh tu, như hiện nay Thế Tôn đang sống.

− Này Nigrodha, Ngươi là bậc có trí và niên trưởng, có bao giờ Ngươi suy nghĩ như sau: “Ðức Phật, bậc Giác Ngộ, thuyết giảng giáo pháp đưa đến giác ngộ; Thế Tôn là vị đã điều phục, thuyết giảng giáo pháp đưa đến sự điều phục; Thế Tôn bậc An Chỉ, thuyết giảng giáo pháp đưa đến An Chỉ; Thế Tôn là bậc đến bờ bên kia, thuyết giảng giáo pháp đưa đến bờ bên kia; Thế Tôn bậc Tịnh Lạc, thuyết giảng giáo pháp đưa đến sự tịnh lạc.

5. Tự mình chứng nghiệm đích đến cuối cùng của lối sống thánh thiện (Brahmacariyapariyosānasacchikiriyā)

Khi được nói như vậy, du sĩ Nigrodha thưa với Thế Tôn: “Lỗi lầm đã vượt qua con, bạch Thế Tôn, như một kẻ ngu, như một kẻ lầm lạc, như một kẻ thiếu thiện xảo, khi con đã nói về Thế Tôn như vậy. Xin Thế Tôn hãy nhận lỗi lầm của con như một lỗi lầm, để con có thể bảo vệ mình trong tương lai.”

"Chắc chắn, này Nigrodha, lỗi lầm đã vượt qua ông như một kẻ ngu, như một kẻ lầm lạc, như một kẻ thiếu thiện xảo, khi ông đã nói về Ta như vậy. Nhưng vì ông đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sửa chữa theo đúng Quy luật (pháp / dhamma), Ta chấp nhận điều đó từ ông. Này Nigrodha, đây là sự phát triển trong kỷ luật của bậc thánh: khi một người thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sửa chữa theo đúng Quy luật và bảo vệ mình trong tương lai. Này Nigrodha, Ta nói như sau:

‘Hãy để một người có trí tuệ đến đây, không gian xảo, không lừa dối, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ hướng dẫn, Ta sẽ giảng dạy Điều dạy. Thực hành đúng như lời hướng dẫn—mục đích mà các thiện nam tử xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là đích đến cuối cùng vô thượng của lối sống thánh thiện—người ấy sẽ tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā) và tự mình chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) ngay trong đời hiện tại, đạt đến và an trú trong bảy năm. Hãy để qua một bên bảy năm, này Nigrodha. Hãy để một người có trí tuệ đến đây, không gian xảo, không lừa dối, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ hướng dẫn, Ta sẽ giảng dạy Điều dạy. Thực hành đúng như lời hướng dẫn—mục đích mà các thiện nam tử xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là đích đến cuối cùng vô thượng của lối sống thánh thiện—người ấy sẽ tự mình hiểu biết trực tiếptự mình chứng nghiệm ngay trong đời hiện tại, đạt đến và an trú trong sáu năm. Năm năm … bốn năm … ba năm … hai năm … một năm. Hãy để qua một bên một năm, này Nigrodha. Hãy để một người có trí tuệ đến đây, không gian xảo, không lừa dối, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ hướng dẫn, Ta sẽ giảng dạy Điều dạy. Thực hành đúng như lời hướng dẫn—mục đích mà các thiện nam tử xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là đích đến cuối cùng vô thượng của lối sống thánh thiện—người ấy sẽ tự mình hiểu biết trực tiếptự mình chứng nghiệm ngay trong đời hiện tại, đạt đến và an trú trong bảy tháng. Hãy để qua một bên bảy tháng, này Nigrodha … sáu tháng … năm tháng … bốn tháng … ba tháng … hai tháng … một tháng … nửa tháng. Hãy để qua một bên nửa tháng, này Nigrodha. Hãy để một người có trí tuệ đến đây, không gian xảo, không lừa dối, có bản chất ngay thẳng, Ta sẽ hướng dẫn, Ta sẽ giảng dạy Điều dạy. Thực hành đúng như lời hướng dẫn—mục đích mà các thiện nam tử xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là đích đến cuối cùng vô thượng của lối sống thánh thiện—người ấy sẽ tự mình hiểu biết trực tiếptự mình chứng nghiệm ngay trong đời hiện tại, đạt đến và an trú trong bảy ngày’.

22. Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con đã phạm tội một cách ngu si, mờ ám, bất thiện, khi con nói về Thế Tôn như vậy. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp thuận cho tội ấy là phạm tội, để con ngăn ngừa về sau.

− Này Nigrodha, thật sự Ngươi đã phạm tội một cách ngu sĩ, mờ ám, bất thiện, khi Ngươi nói về Ta như vậy. Này Nigrodha, khi Ngươi đã thấy phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng với hành động, Ta chấp nhận tội của Ngươi. Này Nigrodha, như vậy là thông lệ giới luật của bậc Thánh, là ai thấy phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng với hành động, thời tương lai sẽ được ngăn ngừa. Này Nigrodha, Ta nói cho Ngươi như sau: “Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo, chân trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp”. Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo. Vị ấy cần có bảy năm. Này Nigrodha, đâu cần phải bảy năm! Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục tiêu vô thượng mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, chỉ cần có sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm… chỉ cần bảy tháng, một tháng, nửa tháng. Này Nigrodha, đâu cần có nửa tháng! Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo, chơn trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp. Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại, phạm hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, vị ấy chỉ cần có bảy ngày.

6. Sự bối rối của các du sĩ (Paribbājakānaṁpajjhāyana)

Có thể các ông nghĩ rằng, này Nigrodha: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn có học trò’. Nhưng các ông không nên nhìn nhận điều đó như vậy, này Nigrodha. Ai là đạo sư của các ông, người đó vẫn cứ là đạo sư của các ông.

Có thể các ông nghĩ rằng, này Nigrodha: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta từ bỏ bài giảng của mình’. Nhưng các ông không nên nhìn nhận điều đó như vậy, này Nigrodha. Bài giảng nào là của các ông, bài giảng đó vẫn cứ là của các ông.

Có thể các ông nghĩ rằng, này Nigrodha: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta từ bỏ cách nuôi sống của mình’. Nhưng các ông không nên nhìn nhận điều đó như vậy, này Nigrodha. Cách nuôi sống nào là của các ông, cách nuôi sống đó vẫn cứ là của các ông.

Có thể các ông nghĩ rằng, này Nigrodha: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn thiết lập chúng ta vào những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā), những điều được coi là không thiện theo các đạo sư của chúng ta’. Nhưng các ông không nên nhìn nhận điều đó như vậy, này Nigrodha. Những điều nào là không thiện đối với các ông và được coi là không thiện theo các đạo sư của các ông, hãy cứ để chúng là không thiện.

Có thể các ông nghĩ rằng, này Nigrodha: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn tách chúng ta ra khỏi những điều thiện (thiện pháp / kusalā dhammā), những điều được coi là thiện theo các đạo sư của chúng ta’. Nhưng các ông không nên nhìn nhận điều đó như vậy, này Nigrodha. Những điều nào là thiện đối với các ông và được coi là thiện theo các đạo sư của các ông, hãy cứ để chúng là thiện.

Như vậy, này Nigrodha, Ta nói không phải vì muốn có học trò, Ta nói không phải vì muốn các ông từ bỏ bài giảng của mình, Ta nói không phải vì muốn các ông từ bỏ cách nuôi sống của mình, Ta nói không phải vì muốn thiết lập các ông vào những điều không thiện theo các đạo sư của các ông, Ta nói không phải vì muốn tách các ông ra khỏi những điều thiện theo các đạo sư của các ông. Nhưng có những điều không thiện, này Nigrodha, chưa được từ bỏ, mang tính nhiễm bẩn, dẫn đến tái sinh, đi kèm với sợ hãi, mang lại kết quả đau khổ, dẫn đến sự sinh, già, chết trong tương lai; chính vì để từ bỏ những điều này mà Ta giảng dạy Điều dạy. Nếu các ông thực hành đúng, những điều mang tính nhiễm bẩn sẽ bị từ bỏ, những điều mang tính thanh lọc sẽ phát triển, và các ông sẽ tự mình hiểu biết trực tiếptự mình chứng nghiệm sự viên mãn và rộng lớn của trí tuệ ngay trong đời hiện tại, đạt đến và an trú trong đó."

Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, trầm ngâm, không thốt được lời nào, như thể tâm trí họ đã bị Ác ma (Māra) chiếm giữ. Sau đó, Thế Tôn suy nghĩ: “Tất cả những kẻ rỗng tuếch này đã bị Ác ma chạm đến. Thậm chí không một ai trong số họ nghĩ rằng: ‘Nào, chúng ta hãy sống lối sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của sa-môn Gotama để đạt được sự hiểu biết, bảy ngày thì có hề gì?’”

Sau đó, Thế Tôn rống tiếng rống của sư tử tại khu vườn của các du sĩ Udumbarikā, rồi bay lên hư không và hiện diện tại núi Gijjhakūṭa. Còn gia chủ Sandhāna thì đi thẳng vào Rājagaha.

Kinh Udumbarika thứ hai kết thúc.

23. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn có đệ tử.” Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như vậy. Bổn sư Ngươi là ai, hãy giữ nguyên vị Bổn sư ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn chúng tôi từ bỏ kinh tụng của chúng tôi”. Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như vậy. Kinh tụng của Ngươi là gì, hãy giữ nguyên kinh tụng ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói như vậy là muốn chúng tôi từ bỏ nghề sống của chúng tôi.” Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Nghề sống của Ngươi là gì, hãy giữ nguyên nghề sống ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn xác tín cho chúng tôi đối với các pháp bất thiện mà truyền thống Tổ sư chúng tôi đã xem là bất thiện.” Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Những pháp thiện gì của Ngươi và được xem là bất thiện do Tổ sư truyền thống, hãy giữ chúng nguyên như cũ. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn cho chúng tôi từ bỏ những thiện pháp mà truyền thống Tổ sư chúng tôi đã xem là thiện pháp”. Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Những thiện pháp của Ngươi và được xem là thiện pháp do Tổ sư truyền thống, hãy giữ chúng nguyên như cũ. Này Nigrodha, Ta nói vậy không phải vì muốn có đệ tử; Ta nói vậy không phải vì mốn khiến các Ngươi từ bỏ kinh tụng, Ta nói vậy không phải vì muốn khiến các Ngươi từ bỏ nghề sống; Ta nói vậy không phải vì muốn xác tín cho các Ngươi đối với các pháp bất thiện mà truyền thống Tổ sư đã xem là bất thiện; Ta nói vậy không phải vì muốn cho các Ngươi từ bỏ những thiện pháp mà truyền thống Tổ sư đã xem là thiện pháp.

Và này Nigrodha, có những pháp bất thiện không được từ bỏ, làm cho cấu uế, đưa đến tái sanh, đem lại đau khổ, đưa lại quả khổ, đem lại già, bệnh, chết trong tương lai. Những pháp ấy, Ta thuyết giảng để diệt trừ chúng. Nếu các Ngươi thực hành đúng theo lời giảng dạy, thời các pháp cấu uế của ngươi được trừ diệt, các pháp thanh tịnh được tăng trưởng, và các ngươi sẽ tự chứng biết, chứng ngộ, đạt đến an trú ngay trong hiện tại, trí tuệ cụ túc, viên mãn.

24. Khi được nói vậy, các du sĩ ấy đều ngồi im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, cúi đầu, ưu tư, câm miệng, như tâm của họ bị Ma vương chi phối.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn tự nghĩ: “Tất cả kẻ ngu si này bị ác ma xâm nhập, không có một ai có ý nghĩ: “Hãy đến, chúng ta hãy sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama”. Còn nói gì đến thời gian bảy ngày!”

Rồi Thế Tôn rống tiếng rống con sư tử trong ngôi vườn của nữ hoàng Udumbarikà dành cho hàng du sĩ, bay trên hư không, và hạ xuống núi Kỳ xà quật. Còn gia chủ Sandhàna trở vào thành Vương Xá.

-ooOoo-