Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 27. KINH VỀ NGUỒN GỐC TỐI SƠ

(Aggaññasutta)

Tôi nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Đông Viên, trong lâu đài của Lộc Mẫu.

Lúc bấy giờ, Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang sống thử thách giữa các tỳ-kheo với mong muốn trở thành tỳ-kheo. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, ra khỏi sự tĩnh cư (xuất định / paṭisallānā), bước xuống khỏi lâu đài và đi bộ qua lại (kinh hành / caṅkamati) ngoài trời, trong bóng râm của lâu đài.

Vāseṭṭha thấy Thế Tôn vào buổi chiều ra khỏi sự tĩnh cư, bước xuống khỏi lâu đài và đi bộ qua lại ngoài trời trong bóng râm của lâu đài. Thấy vậy, ông gọi Bhāradvāja: “Này hiền giả Bhāradvāja, Thế Tôn vào buổi chiều ra khỏi sự tĩnh cư, bước xuống khỏi lâu đài và đi bộ qua lại ngoài trời trong bóng râm của lâu đài. Này hiền giả Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn; biết đâu chúng ta có thể được nghe một bài thuyết luận về Điều dạy (pháp / dhamma) từ Thế Tôn.”

“Vâng, thưa hiền giả,” Bhāradvāja đáp lời Vāseṭṭha.

Rồi Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đi theo sau lưng Thế Tôn đang đi bộ qua lại.

Rồi Thế Tôn gọi Vāseṭṭha: “Này Vāseṭṭha, các ông vốn sinh ra là Bà-la-môn, thuộc gia tộc Bà-la-môn, từ bỏ gia đình sống không gia đình, liệu các Bà-la-môn có mắng nhiếc, chê bai các ông không?”

“Bạch Thế Tôn, quả thật các Bà-la-môn mắng nhiếc, chê bai chúng con bằng những lời chê bai đặc trưng một cách trọn vẹn, không thiếu sót.”

“Nhưng này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn mắng nhiếc, chê bai các ông bằng những lời chê bai đặc trưng một cách trọn vẹn, không thiếu sót như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn nói như thế này: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp (vaṇṇa) tối thượng, các giai cấp khác là thấp kém. Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp da trắng, các giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn mới được thanh tịnh, những người không phải Bà-la-môn thì không. Chỉ có Bà-la-môn là con ruột của Phạm thiên, sinh ra từ miệng, do Phạm thiên sinh ra, do Phạm thiên tạo ra, là người thừa tự của Phạm thiên. Các người đã từ bỏ giai cấp tối thượng để đi theo một giai cấp thấp kém, tức là bọn Sa-môn trọc đầu, bọn tiện dân, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của Phạm thiên. Thật không tốt đẹp gì, thật không thích đáng gì khi các người từ bỏ giai cấp tối thượng để đi theo một giai cấp thấp kém, tức là bọn Sa-môn trọc đầu, bọn tiện dân, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của Phạm thiên.’ Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn mắng nhiếc, chê bai chúng con bằng những lời chê bai đặc trưng một cách trọn vẹn, không thiếu sót như vậy.”

"Này Vāseṭṭha, quả thật các Bà-la-môn đã quên mất nguồn gốc xa xưa khi họ nói như thế này: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng… là người thừa tự của Phạm thiên.’ Này Vāseṭṭha, người ta vẫn thấy rõ ràng các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn, có kinh nguyệt, mang thai, sinh con và cho con bú. Thế mà những Bà-la-môn được sinh ra từ tử cung ấy lại nói như thế này: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng… là người thừa tự của Phạm thiên.’ Họ đang vu khống Phạm thiên, nói dối và tạo ra nhiều điều không có phước.

27. KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN

(Agganna Sutta)

Như vầy tôi nghe:

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.

2. Vàsettha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vàsettha nói với Bhàradvàja:

− Này bạn Bhàradvàja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bhàradvàja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.

− Thưa vâng, Hiền giả!

Bhàradvàja vâng theo lời Vàsettha. Rồi cả Vàsettha và Bhàradvàja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.

3. Rồi Thế Tôn nói với Vàsettha:

− Này Vàsettha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vàsettha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?

− Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

− Này Vàsettha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?

− Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện - giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiệt, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân”. Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

4. - Này Vàsettha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cáp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên”. Này Vàsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng… là con cháu thừa tự của Phạm thiên”.

1. Sự trong sạch của bốn giai cấp (Catuvaṇṇasuddhi)

Này Vāseṭṭha, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ (Khattiya), Bà-la-môn (Brāhmaṇa), Vệ-xá (Vessa), Thủ-đà-la (Sudda). Này Vāseṭṭha, ngay cả một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ ở đời cũng giết hại sinh mệnh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, có lòng tham, có tâm ác ý, có quan điểm sai. Này Vāseṭṭha, những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalā dhammā) này, được tính là không thiện, có lỗi, được tính là có lỗi, không nên thực hành, được tính là không nên thực hành, không xứng đáng bậc thánh, được tính là không xứng đáng bậc thánh, đen tối, có quả báo đen tối, bị người trí chê trách; những điều này cũng được thấy ở một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ. Ngay cả một số người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một số người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một số người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha, ở đời cũng giết hại sinh mệnh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, có lòng tham, có tâm ác ý, có quan điểm sai. Này Vāseṭṭha, những điều không thiện này, được tính là không thiện […lặp lại…] đen tối, có quả báo đen tối, bị người trí chê trách; những điều này cũng được thấy ở một số người thuộc giai cấp Thủ-đà-la.

Này Vāseṭṭha, ngay cả một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ ở đời cũng từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, từ bỏ việc lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời chia rẽ, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có lòng tham, không có tâm ác ý, có quan điểm đúng. Này Vāseṭṭha, những điều thiện (thiện pháp / kusalā dhammā) này, được tính là thiện, không có lỗi, được tính là không có lỗi, nên thực hành, được tính là nên thực hành, xứng đáng bậc thánh, được tính là xứng đáng bậc thánh, trắng trong, có quả báo trắng trong, được người trí tán thán; những điều này cũng được thấy ở một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ. Ngay cả một số người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một số người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một số người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha, ở đời cũng từ bỏ việc giết hại sinh mệnh […lặp lại…] không có lòng tham, không có tâm ác ý, có quan điểm đúng. Này Vāseṭṭha, những điều thiện này, được tính là thiện, không có lỗi, được tính là không có lỗi, nên thực hành, được tính là nên thực hành, xứng đáng bậc thánh, được tính là xứng đáng bậc thánh, trắng trong, có quả báo trắng trong, được người trí tán thán; những điều này cũng được thấy ở một số người thuộc giai cấp Thủ-đà-la.

Này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, khi cả hai loại Điều đen tối và trắng trong, bị người trí chê trách và được người trí tán thán, đều tồn tại lẫn lộn như vậy, mà các Bà-la-môn lại nói như thế này: ‘Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ có Bà-la-môn là giai cấp da trắng, các giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn mới được thanh tịnh, những người không phải Bà-la-môn thì không; chỉ có Bà-la-môn là con ruột của Phạm thiên, sinh ra từ miệng, do Phạm thiên sinh ra, do Phạm thiên tạo ra, là người thừa tự của Phạm thiên.’

Những người trí không chấp nhận điều đó của họ. Vì sao vậy? Này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, ai là vị tỳ-kheo A-la-hán, người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava), đã sống trọn vẹn, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã phá bỏ hoàn toàn các xiềng xích của cõi tồn tại, được giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì người đó được gọi là tối thượng giữa họ, dựa trên Quy luật, không phải dựa trên Điều sai (phi pháp / adhamma). Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

Này Vāseṭṭha, qua phương thức này, cần phải hiểu rằng Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

Này Vāseṭṭha, vua Pasenadi nước Kosala biết rằng: ‘Sa-môn Gotama xuất gia từ gia tộc Thích-ca (Sakya).’ Này Vāseṭṭha, những người Thích-ca lại là thần dân phụ thuộc vào vua Pasenadi nước Kosala. Này Vāseṭṭha, những người Thích-ca thực hiện sự nhún nhường, đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay và các hành vi tôn kính đối với vua Pasenadi nước Kosala. Này Vāseṭṭha, những sự nhún nhường, đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay và các hành vi tôn kính mà những người Thích-ca thực hiện đối với vua Pasenadi nước Kosala, thì vua Pasenadi nước Kosala lại thực hiện sự nhún nhường, đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay và các hành vi tôn kính đó đối với Như Lai (Tathāgata). Vua không nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama sinh ra trong dòng dõi cao quý, còn ta sinh ra trong dòng dõi thấp kém. Sa-môn Gotama có sức mạnh, còn ta yếu đuối. Sa-môn Gotama có ngoại hình đẹp đẽ, còn ta xấu xí. Sa-môn Gotama có uy quyền lớn, còn ta ít uy quyền.’ Mà chính vì tôn trọng Quy luật, kính trọng Quy luật, quý mến Quy luật, cúng dường Quy luật, sùng bái Quy luật, nên vua Pasenadi nước Kosala mới thực hiện sự nhún nhường, đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay và các hành vi tôn kính đối với Như Lai như vậy. Này Vāseṭṭha, qua phương thức này cũng cần phải hiểu rằng Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

Này Vāseṭṭha, các ông vốn thuộc nhiều dòng dõi khác nhau, nhiều tên gọi khác nhau, nhiều gia tộc khác nhau, nhiều gia đình khác nhau, đã từ bỏ gia đình sống không gia đình. Khi được hỏi: ‘Các ông là ai?’, các ông thừa nhận: ‘Chúng tôi là những Sa-môn, con của Thích-ca.’ Này Vāseṭṭha, đối với ai có niềm tin vào Như Lai đã được an lập, bắt rễ, thiết lập vững chắc, không thể bị lay chuyển bởi bất kỳ Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương, Phạm thiên hay bất kỳ ai trên đời, người đó thật xứng đáng để nói rằng: ‘Tôi là con ruột của Thế Tôn, sinh ra từ miệng, sinh ra từ Quy luật, do Quy luật tạo ra, là người thừa tự của Quy luật.’ Vì sao vậy? Này Vāseṭṭha, đây là những tên gọi khác của Như Lai: ‘Thân Quy luật’ (Dhammakāya), ‘Thân Phạm thiên’ (Brahmakāya), ‘Trở thành Quy luật’ (Dhammabhūta), ‘Trở thành Phạm thiên’ (Brahmabhūta).

Này Vāseṭṭha, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này co lại (hoại diệt / saṁvaṭṭati). Khi thế giới đang co lại, phần lớn chúng sinh được sinh về cõi Quang Âm (Ābhassara). Tại đó, họ sinh ra từ tâm trí (ý sinh / manomayā), ăn hân hoan (hỷ / pīti), tự phát sáng (sayaṁpabhā), di chuyển trong không gian, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài.

Này Vāseṭṭha, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này mở ra (thành lập / vivaṭṭati). Khi thế giới đang mở ra, phần lớn chúng sinh từ cõi Quang Âm chết đi và đến trạng thái này. Tại đây, họ sinh ra từ tâm trí, ăn hân hoan, tự phát sáng, di chuyển trong không gian, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài.

5. Này Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn… Này Vàsettha có người Phệ xá… Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh… có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện… là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

6. Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha, có người Bà-la-môn… Này Vàsettha, có người Phệ xá… Này Vàsettha, có người Thủ đà la không sát sanh… không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

7. Này Vàsettha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn gai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.” Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vàsettha, vì rằng nếu có ai trông bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vàsettha, Phàp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

8. Này Vàsettha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

Này Vàsettha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: “Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: “Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?” Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vàsettha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

9. Này Vàsettha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: “Các vị là ai?”, các Ngươi cần trả lời: “Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử”. Này Vàsettha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: “Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp.” Vì sao vậy? Này Vàsettha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.

10. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.

2. Sự xuất hiện của vị đất (Rasapathavipātubhāva)

Này Vāseṭṭha, lúc bấy giờ [vũ trụ] chỉ là một khối nước duy nhất, tối tăm, mù mịt. Không có mặt trăng mặt trời xuất hiện, không có các chòm sao hay tinh tú xuất hiện, không có ngày đêm xuất hiện, không có nửa tháng hay một tháng xuất hiện, không có các mùa hay năm xuất hiện, không có giới tính nữ hay nam xuất hiện; chúng sinh chỉ được gọi chung là chúng sinh. Rồi này Vāseṭṭha, đối với những chúng sinh ấy, vào một thời điểm nào đó sau một khoảng thời gian rất dài, vị của đất (rasapathavī) lan tỏa trên mặt nước; giống như lớp váng nổi lên trên bề mặt sữa nóng đang nguội dần; nó xuất hiện y như vậy. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo, giống như bơ lỏng hoàn hảo hay bơ đặc hoàn hảo, màu sắc của nó là như vậy. Giống như mật ong rừng nguyên chất không tì vết; mùi vị của nó là như vậy. Rồi này Vāseṭṭha, có một chúng sinh mang bản tính tham lam tự hỏi: ‘Này, cái này sẽ là gì đây?’ và nếm thử vị của đất bằng ngón tay. Khi nếm vị của đất bằng ngón tay, vị ấy thấm vào người đó, và sự thèm khát (tham ái / taṇhā) xâm nhập vào người đó. Này Vāseṭṭha, những chúng sinh khác, bắt chước theo chúng sinh ấy, cũng nếm thử vị của đất bằng ngón tay. Khi họ nếm vị của đất bằng ngón tay, vị ấy thấm vào họ, và sự thèm khát xâm nhập vào họ.

11. Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.

3. Sự xuất hiện của mặt trăng, mặt trời, v.v. (Candimasūriyādipātubhāva)

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy bắt đầu dùng tay bẻ từng miếng vị của đất để ăn. Này Vāseṭṭha, khi những chúng sinh ấy bắt đầu dùng tay bẻ từng miếng vị của đất để ăn, thì sự tự phát sáng của họ biến mất. Khi sự tự phát sáng biến mất, mặt trăng và mặt trời xuất hiện. Khi mặt trăng và mặt trời xuất hiện, các chòm sao và tinh tú xuất hiện. Khi các chòm sao và tinh tú xuất hiện, ngày và đêm xuất hiện. Khi ngày và đêm xuất hiện, nửa tháng và một tháng xuất hiện. Khi nửa tháng và một tháng xuất hiện, các mùa và năm xuất hiện. Này Vāseṭṭha, cho đến mức độ này, thế giới này lại được mở ra.

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy ăn vị của đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Này Vāseṭṭha, tùy theo mức độ những chúng sinh ấy ăn vị của đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng trong một thời gian rất dài, mà sự thô cứng xâm nhập vào cơ thể họ, và sự khác biệt về màu sắc (sắc vóc) xuất hiện. Một số chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ, một số chúng sinh có màu sắc xấu xí. Tại đó, những chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ khinh thường những chúng sinh có màu sắc xấu xí: ‘Chúng ta đẹp đẽ hơn bọn họ, bọn họ xấu xí hơn chúng ta.’ Do ngạo mạn (māna) về màu sắc của họ, sinh ra ngạo mạn và khinh người, nên vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ tụ tập lại. Sau khi tụ tập lại, họ than vãn: ‘Ôi cái vị, ôi cái vị.’ Cho đến tận bây giờ, con người khi nếm được món gì ngon cũng nói như vậy: ‘Ôi cái vị, ôi cái vị.’ Họ chỉ đang lặp lại câu nói nguyên thủy xa xưa đó, nhưng không hiểu ý nghĩa của nó.

12. Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: “Kìa xem, vật này là gì vậy?”, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.

13. Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!”, như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!” Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

4. Sự xuất hiện của nấm đất (Bhūmipappaṭakapātubhāva)

Rồi này Vāseṭṭha, khi vị của đất biến mất đối với những chúng sinh ấy, một loại nấm đất (bhūmipappaṭaka) xuất hiện. Giống như nấm ahicchattaka; nó xuất hiện y như vậy. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo, giống như bơ lỏng hoàn hảo hay bơ đặc hoàn hảo, màu sắc của nó là như vậy. Giống như mật ong rừng nguyên chất không tì vết; mùi vị của nó là như vậy.

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy bắt đầu ăn nấm đất. Họ ăn nó, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Này Vāseṭṭha, tùy theo mức độ những chúng sinh ấy ăn nấm đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng trong một thời gian rất dài, mà sự thô cứng xâm nhập vào cơ thể họ nhiều hơn nữa, và sự khác biệt về màu sắc xuất hiện. Một số chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ, một số chúng sinh có màu sắc xấu xí. Tại đó, những chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ khinh thường những chúng sinh có màu sắc xấu xí: ‘Chúng ta đẹp đẽ hơn bọn họ, bọn họ xấu xí hơn chúng ta.’ Do ngạo mạn về màu sắc của họ, sinh ra ngạo mạn và khinh người, nên nấm đất biến mất.

5. Sự xuất hiện của dây leo (Padālatāpātubhāva)

Khi nấm đất biến mất, dây leo (padālatā) xuất hiện, giống như cây bìm bìm (kalambukā); nó xuất hiện y như vậy. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo, giống như bơ lỏng hoàn hảo hay bơ đặc hoàn hảo, màu sắc của nó là như vậy. Giống như mật ong rừng nguyên chất không tì vết; mùi vị của nó là như vậy.

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy bắt đầu ăn dây leo. Họ ăn nó, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Này Vāseṭṭha, tùy theo mức độ những chúng sinh ấy ăn dây leo, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng trong một thời gian rất dài, mà sự thô cứng xâm nhập vào cơ thể họ nhiều hơn nữa, và sự khác biệt về màu sắc xuất hiện. Một số chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ, một số chúng sinh có màu sắc xấu xí. Tại đó, những chúng sinh có màu sắc đẹp đẽ khinh thường những chúng sinh có màu sắc xấu xí: ‘Chúng ta đẹp đẽ hơn bọn họ, bọn họ xấu xí hơn chúng ta.’ Do ngạo mạn về màu sắc của họ, sinh ra ngạo mạn và khinh người, nên dây leo biến mất.

Khi dây leo biến mất, họ tụ tập lại. Sau khi tụ tập lại, họ than vãn: ‘Ôi, chúng ta đã từng có nó, ôi, dây leo của chúng ta đã mất rồi.’ Cho đến tận bây giờ, con người khi bị chạm phải một nỗi đau khổ nào đó cũng nói như vậy: ‘Ôi, chúng ta đã từng có nó, ôi, nó đã mất rồi.’ Họ chỉ đang lặp lại câu nói nguyên thủy xa xưa đó, nhưng không hiểu ý nghĩa của nó.

14. Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đát. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thanh cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta”. Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.

15. Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đàu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!”; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!” Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

6. Sự xuất hiện của lúa tự chín không cần cày cấy (Akaṭṭhapākasālipātubhāva)

Rồi này Vāseṭṭha, khi dây leo biến mất đối với những chúng sinh ấy, lúa tự chín không cần cày cấy (akaṭṭhapāko sāli) xuất hiện, không có cám, không có trấu, sạch sẽ, thơm tho, chỉ toàn hạt gạo. Những gì họ mang về vào buổi chiều cho bữa tối, thì đến sáng nó lại chín và mọc lại. Những gì họ mang về vào buổi sáng cho bữa sáng, thì đến chiều nó lại chín và mọc lại; không thấy có dấu vết bị cắt đứt. Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy ăn lúa tự chín không cần cày cấy, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài.

7. Sự xuất hiện của giới tính nam nữ (Itthipurisaliṅgapātubhāva)

Này Vāseṭṭha, tùy theo mức độ những chúng sinh ấy ăn lúa tự chín không cần cày cấy, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng trong một thời gian rất dài, mà sự thô cứng xâm nhập vào cơ thể họ nhiều hơn nữa, và sự khác biệt về màu sắc xuất hiện, đặc điểm giới tính nữ xuất hiện ở người nữ và đặc điểm giới tính nam xuất hiện ở người nam. Người nữ nhìn chằm chằm vào người nam quá lâu, và người nam nhìn chằm chằm vào người nữ quá lâu. Do họ nhìn chằm chằm vào nhau quá lâu, sự say đắm sinh khởi, sự rạo rực xâm nhập vào cơ thể. Do duyên rạo rực đó, họ thực hành hành vi tình dục (dâm pháp / methunaṁ dhammaṁ).

Này Vāseṭṭha, lúc bấy giờ, những chúng sinh nào nhìn thấy họ đang thực hành hành vi tình dục, người thì ném đất, người thì ném tro, người thì ném phân bò, nói rằng: ‘Đồ dơ bẩn, đồ dơ bẩn.’ ‘Làm sao một chúng sinh lại có thể làm chuyện như vậy với một chúng sinh khác?’ Cho đến tận bây giờ, ở một số vùng, khi cô dâu được rước đi, người thì ném đất, người thì ném tro, người thì ném phân bò. Họ chỉ đang lặp lại câu nói nguyên thủy xa xưa đó, nhưng không hiểu ý nghĩa của nó.

16. Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: “Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?”; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

8. Thực hành hành vi tình dục (Methunadhammasamācāra)

Này Vāseṭṭha, điều được coi là không đúng Quy luật (phi pháp) vào thời đó, thì nay lại được coi là đúng Quy luật. Này Vāseṭṭha, lúc bấy giờ, những chúng sinh nào thực hành hành vi tình dục, họ không được phép vào làng hay thị trấn trong một tháng hoặc hai tháng. Này Vāseṭṭha, vì những chúng sinh ấy rơi vào tình trạng sa đọa quá mức trong cái Điều tồi tệ (asaddhamma) đó, nên họ bắt đầu xây dựng nhà cửa để che giấu cái Điều tồi tệ ấy. Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sinh mang bản tính lười biếng khởi lên suy nghĩ: ‘Này, tại sao ta lại phải chịu cực nhọc đi lấy lúa vào buổi chiều cho bữa tối, và vào buổi sáng cho bữa sáng? Hay là ta lấy lúa một lần cho cả bữa tối và bữa sáng luôn?’

Rồi này Vāseṭṭha, chúng sinh ấy lấy lúa một lần cho cả bữa tối và bữa sáng. Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sinh khác đi đến chỗ chúng sinh ấy; sau khi đến, nói với chúng sinh ấy: ‘Đến đây, này bạn, chúng ta đi lấy lúa.’ ‘Thôi đi, này bạn, tôi đã lấy lúa một lần cho cả bữa tối và bữa sáng rồi.’ Rồi này Vāseṭṭha, chúng sinh kia bắt chước theo chúng sinh ấy, liền lấy lúa một lần cho cả hai ngày, nghĩ rằng: ‘Như thế này cũng tốt vậy.’

Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sinh khác đi đến chỗ chúng sinh ấy; sau khi đến, nói với chúng sinh ấy: ‘Đến đây, này bạn, chúng ta đi lấy lúa.’ ‘Thôi đi, này bạn, tôi đã lấy lúa một lần cho cả hai ngày rồi.’ Rồi này Vāseṭṭha, chúng sinh kia bắt chước theo chúng sinh ấy, liền lấy lúa một lần cho cả bốn ngày, nghĩ rằng: ‘Như thế này cũng tốt vậy.’

Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sinh khác đi đến chỗ chúng sinh ấy; sau khi đến, nói với chúng sinh ấy: ‘Đến đây, này bạn, chúng ta đi lấy lúa.’ ‘Thôi đi, này bạn, tôi đã lấy lúa một lần cho cả bốn ngày rồi.’ Rồi này Vāseṭṭha, chúng sinh kia bắt chước theo chúng sinh ấy, liền lấy lúa một lần cho cả tám ngày, nghĩ rằng: ‘Như thế này cũng tốt vậy.’

Này Vāseṭṭha, khi những chúng sinh ấy bắt đầu tích trữ lúa để ăn, thì cám bao bọc lấy hạt gạo, trấu bao bọc lấy hạt gạo; chỗ nào bị cắt đi thì không mọc lại nữa, dấu vết cắt đứt hiện rõ, và lúa đứng thành từng cụm.

17. Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: “Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiếu cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?” Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:

− Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.

Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày. − Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:

− Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.

− Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:

− Này Bạn, chúng ta hữu đi tìm lúa!

− Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!

Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.

− Này Bạn, như vậy là tốt.

Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.

9. Sự phân chia lúa gạo (Sālivibhāga)

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy tụ tập lại, sau khi tụ tập lại, họ than vãn: ‘Này các bạn, những Điều tồi tệ (pāpakā dhammā) đã xuất hiện giữa các chúng sinh. Trước đây chúng ta sinh ra từ tâm trí, ăn hân hoan, tự phát sáng, di chuyển trong không gian, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Đối với chúng ta, vào một thời điểm nào đó sau một khoảng thời gian rất dài, vị của đất lan tỏa trên mặt nước. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo. Chúng ta bắt đầu dùng tay bẻ từng miếng vị của đất để ăn, khi chúng ta bắt đầu dùng tay bẻ từng miếng vị của đất để ăn, sự tự phát sáng biến mất. Khi sự tự phát sáng biến mất, mặt trăng và mặt trời xuất hiện, khi mặt trăng và mặt trời xuất hiện, các chòm sao và tinh tú xuất hiện, khi các chòm sao và tinh tú xuất hiện, ngày và đêm xuất hiện, khi ngày và đêm xuất hiện, nửa tháng và một tháng xuất hiện. Khi nửa tháng và một tháng xuất hiện, các mùa và năm xuất hiện. Chúng ta ăn vị của đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Do sự xuất hiện của những Điều tồi tệ, những điều không thiện của chúng ta, nên vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, nấm đất xuất hiện. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo. Chúng ta bắt đầu ăn nấm đất. Chúng ta ăn nó, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Do sự xuất hiện của những Điều tồi tệ, những điều không thiện của chúng ta, nên nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất, dây leo xuất hiện. Nó có màu sắc hoàn hảo, mùi hương hoàn hảo, mùi vị hoàn hảo. Chúng ta bắt đầu ăn dây leo. Chúng ta ăn nó, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Do sự xuất hiện của những Điều tồi tệ, những điều không thiện của chúng ta, nên dây leo biến mất. Khi dây leo biến mất, lúa tự chín không cần cày cấy xuất hiện, không có cám, không có trấu, sạch sẽ, thơm tho, chỉ toàn hạt gạo. Những gì chúng ta mang về vào buổi chiều cho bữa tối, thì đến sáng nó lại chín và mọc lại. Những gì chúng ta mang về vào buổi sáng cho bữa sáng, thì đến chiều nó lại chín và mọc lại. Không thấy có dấu vết bị cắt đứt. Chúng ta ăn lúa tự chín không cần cày cấy, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm nguồn nuôi dưỡng, và tồn tại như vậy trong một thời gian rất dài. Do sự xuất hiện của những Điều tồi tệ, những điều không thiện của chúng ta, nên cám bao bọc lấy hạt gạo, trấu bao bọc lấy hạt gạo, chỗ nào bị cắt đi thì không mọc lại nữa, dấu vết cắt đứt hiện rõ, và lúa đứng thành từng cụm. Hay là chúng ta hãy phân chia lúa gạo và thiết lập ranh giới.’ Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy phân chia lúa gạo và thiết lập ranh giới.

Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sinh mang bản tính tham lam, trong khi bảo vệ phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho và ăn nó.

Họ bắt giữ người ấy, sau khi bắt giữ, họ nói như thế này: ‘Này bạn, bạn đang làm một Điều tồi tệ, khi mà trong lúc bảo vệ phần của mình, bạn lại lấy phần của người khác không được cho và ăn nó. Này bạn, đừng bao giờ làm chuyện như vậy nữa.’

‘Vâng, thưa các bạn,’ này Vāseṭṭha, chúng sinh ấy đáp lời những chúng sinh kia. Lần thứ hai, này Vāseṭṭha, chúng sinh ấy […lặp lại…] Lần thứ ba, này Vāseṭṭha, chúng sinh ấy trong khi bảo vệ phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho và ăn nó. Họ bắt giữ người ấy, sau khi bắt giữ, họ nói như thế này: ‘Này bạn, bạn đang làm một Điều tồi tệ, khi mà trong lúc bảo vệ phần của mình, bạn lại lấy phần của người khác không được cho và ăn nó. Này bạn, đừng bao giờ làm chuyện như vậy nữa.’ Người thì đánh bằng tay, người thì đánh bằng cục đất, người thì đánh bằng gậy. Này Vāseṭṭha, bắt đầu từ đó, việc lấy của không cho xuất hiện, sự chê trách xuất hiện, nói dối xuất hiện, việc dùng hình phạt xuất hiện.

18. Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:

− Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

19. Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:

− Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

− Thưa Bạn, vâng!

Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai… Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:

− Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy… Ngươi chớ có làm như vậy nữa.

Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.

10. Vị vua được đại chúng tôn xưng (Mahāsammatarājā)

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy tụ tập lại, sau khi tụ tập lại, họ than vãn: ‘Này các bạn, những Điều tồi tệ đã xuất hiện giữa các chúng sinh, khi mà việc lấy của không cho sẽ xuất hiện, sự chê trách sẽ xuất hiện, nói dối sẽ xuất hiện, việc dùng hình phạt sẽ xuất hiện. Hay là chúng ta hãy tôn xưng một chúng sinh, người sẽ quở trách đúng mức những ai đáng bị quở trách, chê trách đúng mức những ai đáng bị chê trách, trục xuất đúng mức những ai đáng bị trục xuất. Còn chúng ta sẽ chia cho người ấy một phần lúa gạo.’

Rồi này Vāseṭṭha, những chúng sinh ấy đi đến chỗ chúng sinh nào đẹp đẽ nhất, dễ nhìn nhất, đáng mến nhất và có uy quyền nhất trong số họ, và nói như thế này: ‘Đến đây, này bạn, hãy quở trách đúng mức những ai đáng bị quở trách, chê trách đúng mức những ai đáng bị chê trách, trục xuất đúng mức những ai đáng bị trục xuất. Còn chúng ta sẽ chia cho bạn một phần lúa gạo.’ ‘Vâng, thưa các bạn,’ này Vāseṭṭha, chúng sinh ấy nhận lời những chúng sinh kia, rồi quở trách đúng mức những ai đáng bị quở trách, chê trách đúng mức những ai đáng bị chê trách, trục xuất đúng mức những ai đáng bị trục xuất. Và họ chia cho người ấy một phần lúa gạo.

Này Vāseṭṭha, vì được đại chúng tôn xưng, nên danh xưng đầu tiên là ‘Đại Tôn Xưng’ (Mahāsammata) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, vì là chúa tể của các cánh đồng (khetta), nên danh xưng thứ hai là ‘Sát-đế-lỵ’ (Khattiya) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, vì làm cho người khác hài lòng bằng Quy luật (dhamma), nên danh xưng thứ ba là ‘Vua’ (Rājā) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, như vậy là sự hình thành của vòng tròn Sát-đế-lỵ này theo danh xưng nguyên thủy xa xưa, dành cho chính những chúng sinh ấy, không phải cho những người khác. Dành cho những người giống nhau, không phải cho những người khác nhau. Bằng Quy luật, không phải bằng Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

20. Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:

− Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.

− Xin vâng, các Tôn giả!

Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.

21. Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vàsettha, “Vị chủ của ruộng vườn” tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên” Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp”, tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

11. Vòng tròn Bà-la-môn (Brāhmaṇamaṇḍala)

Rồi này Vāseṭṭha, một số chúng sinh trong nhóm đó khởi lên suy nghĩ: ‘Này các bạn, những Điều tồi tệ đã xuất hiện giữa các chúng sinh, khi mà việc lấy của không cho sẽ xuất hiện, sự chê trách sẽ xuất hiện, nói dối sẽ xuất hiện, việc dùng hình phạt sẽ xuất hiện, sự trục xuất sẽ xuất hiện. Hay là chúng ta hãy gạt bỏ những Điều tồi tệ, những điều không thiện.’ Họ liền gạt bỏ những Điều tồi tệ, những điều không thiện.

Này Vāseṭṭha, vì họ gạt bỏ (bāhenti) những Điều tồi tệ, những điều không thiện, nên danh xưng đầu tiên là ‘Bà-la-môn’ (Brāhmaṇā) được sinh ra.

Họ dựng những túp lều lá trong rừng và thiền định (jhāyanti) trong những túp lều lá đó, không có than hồng, không có khói, cất chày giã gạo đi, vào buổi chiều họ đi xuống làng, thị trấn và kinh đô để tìm thức ăn cho bữa tối, vào buổi sáng cho bữa sáng. Sau khi nhận được thức ăn, họ lại trở về thiền định trong những túp lều lá trong rừng.

Con người thấy họ liền nói như thế này: ‘Này các bạn, những chúng sinh này dựng những túp lều lá trong rừng và thiền định trong những túp lều lá đó, không có than hồng, không có khói, cất chày giã gạo đi, vào buổi chiều họ đi xuống làng, thị trấn và kinh đô để tìm thức ăn cho bữa tối, vào buổi sáng cho bữa sáng. Sau khi nhận được thức ăn, họ lại trở về thiền định trong những túp lều lá trong rừng.’

Này Vāseṭṭha, vì họ thiền định (jhāyanti), nên danh xưng thứ hai là ‘Người thiền định’ (Jhāyakā) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, một số chúng sinh trong nhóm đó không thể thực hiện được việc thiền định trong những túp lều lá trong rừng, họ đi xuống định cư gần làng, gần thị trấn và ngồi biên soạn các sách vở.

Con người thấy họ liền nói như thế này: ‘Này các bạn, những chúng sinh này không thể thực hiện được việc thiền định trong những túp lều lá trong rừng, họ đi xuống định cư gần làng, gần thị trấn và ngồi biên soạn các sách vở, bây giờ họ không thiền định nữa.’

Này Vāseṭṭha, vì bây giờ họ không thiền định nữa (na jhāyanti), nên danh xưng thứ ba là ‘Người không thiền định’ (Ajjhāyakā) được sinh ra. Này Vāseṭṭha, điều được coi là thấp kém vào thời đó, thì nay lại được coi là tối thượng.

Này Vāseṭṭha, như vậy là sự hình thành của vòng tròn Bà-la-môn này theo danh xưng nguyên thủy xa xưa, dành cho chính những chúng sinh ấy, không phải cho những người khác, dành cho những người giống nhau, không phải cho những người khác nhau, bằng Quy luật, không phải bằng Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

12. Vòng tròn Vệ-xá (Vessamaṇḍala)

Này Vāseṭṭha, một số chúng sinh trong nhóm đó thực hành hành vi tình dục và tiến hành các nghề nghiệp khác nhau.

Này Vāseṭṭha, vì họ thực hành hành vi tình dục và tiến hành các nghề nghiệp khác nhau (visukammante), nên danh xưng là ‘Vệ-xá’ (Vessā) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, như vậy là sự hình thành của vòng tròn Vệ-xá này theo danh xưng nguyên thủy xa xưa, dành cho chính những chúng sinh ấy, không phải cho những người khác, dành cho những người giống nhau, không phải cho những người khác nhau, bằng Quy luật, không phải bằng Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

13. Vòng tròn Thủ-đà-la (Suddamaṇḍala)

Này Vāseṭṭha, những chúng sinh còn lại trong nhóm đó có những hành vi săn bắn tàn nhẫn, những hành vi thấp kém.

Này Vāseṭṭha, vì họ có những hành vi săn bắn tàn nhẫn, những hành vi thấp kém (khuddācārā), nên danh xưng là ‘Thủ-đà-la’ (Suddā) được sinh ra.

Này Vāseṭṭha, như vậy là sự hình thành của vòng tròn Thủ-đà-la này theo danh xưng nguyên thủy xa xưa, dành cho chính những chúng sinh ấy, không phải cho những người khác, dành cho những người giống nhau, không phải cho những người khác nhau, bằng Quy luật, không phải bằng Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

Này Vāseṭṭha, đã có thời điểm mà một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ chê trách Quy luật của chính mình, từ bỏ gia đình sống không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ trở thành Sa-môn.’ Ngay cả một người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha, cũng chê trách Quy luật của chính mình, từ bỏ gia đình sống không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ trở thành Sa-môn.’

Này Vāseṭṭha, từ bốn vòng tròn này mà vòng tròn Sa-môn được hình thành, dành cho chính những chúng sinh ấy, không phải cho những người khác, dành cho những người giống nhau, không phải cho những người khác nhau, bằng Quy luật, không phải bằng Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

22. Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:

− Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.

Vác vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngã nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau:

− Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.

Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngã nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thi xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ “Jhàyanti”, tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jahàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.

23. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:

“Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quah thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.

Này Vàsettha, “Na dàn ime Jhàyanti” tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

24. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

25. Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddsà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

26. Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

14. Câu chuyện về ác hạnh, v.v. (Duccaritādikathā)

Này Vāseṭṭha, ngay cả một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, nếu thực hành hành vi xấu bằng thân, thực hành hành vi xấu bằng lời nói, thực hành hành vi xấu bằng ý nghĩ, có quan điểm sai, chấp nhận hành động theo quan điểm sai, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm sai đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi khổ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Ngay cả một người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha… ngay cả một người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha… ngay cả một Sa-môn, này Vāseṭṭha, nếu thực hành hành vi xấu bằng thân, thực hành hành vi xấu bằng lời nói, thực hành hành vi xấu bằng ý nghĩ, có quan điểm sai, chấp nhận hành động theo quan điểm sai, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm sai đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi khổ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục.

Này Vāseṭṭha, ngay cả một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, nếu thực hành hành vi tốt bằng thân, thực hành hành vi tốt bằng lời nói, thực hành hành vi tốt bằng ý nghĩ, có quan điểm đúng, chấp nhận hành động theo quan điểm đúng, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm đúng đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi lành, cõi trời. Ngay cả một người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha… ngay cả một người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha… ngay cả một Sa-môn, này Vāseṭṭha, nếu thực hành hành vi tốt bằng thân, thực hành hành vi tốt bằng lời nói, thực hành hành vi tốt bằng ý nghĩ, có quan điểm đúng, chấp nhận hành động theo quan điểm đúng, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm đúng đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi lành, cõi trời.

Này Vāseṭṭha, ngay cả một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, nếu thực hành cả hai loại hành vi bằng thân, thực hành cả hai loại hành vi bằng lời nói, thực hành cả hai loại hành vi bằng ý nghĩ, có quan điểm pha trộn, chấp nhận hành động theo quan điểm pha trộn, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm pha trộn đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ cảm nhận cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Ngay cả một người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha… ngay cả một người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha… ngay cả một Sa-môn, này Vāseṭṭha, nếu thực hành cả hai loại hành vi bằng thân, thực hành cả hai loại hành vi bằng lời nói, thực hành cả hai loại hành vi bằng ý nghĩ, có quan điểm pha trộn, chấp nhận hành động theo quan điểm pha trộn, thì do nguyên nhân chấp nhận hành động theo quan điểm pha trộn đó, sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ cảm nhận cả hạnh phúc lẫn đau khổ.

27. Này Vàsettha,vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn … Này Vàsettha,vị Vessà … Này Vàsettha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

28. Này Vàsettha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… Này Vàsettha, vị Sessà… Này Vàsettha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhớ duyên, sạu khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.

29. Này Vàsettha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… Này Vàsettha, vị Vessà… Này Vàsettha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.

15. Tu tập các yếu tố giác ngộ (Bodhipakkhiyabhāvanā)

Này Vāseṭṭha, ngay cả một người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, nếu được bảo vệ về thân, được bảo vệ về lời nói, được bảo vệ về ý nghĩ, nhờ tu tập bảy các yếu tố thuộc về giác ngộ (bồ-đề phần pháp / bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ), sẽ hoàn toàn tịch diệt (parinibbāyati) ngay trong hiện tại. Ngay cả một người thuộc giai cấp Bà-la-môn, này Vāseṭṭha […lặp lại…] ngay cả một người thuộc giai cấp Vệ-xá, này Vāseṭṭha… ngay cả một người thuộc giai cấp Thủ-đà-la, này Vāseṭṭha… ngay cả một Sa-môn, này Vāseṭṭha, nếu được bảo vệ về thân, được bảo vệ về lời nói, được bảo vệ về ý nghĩ, nhờ tu tập bảy các yếu tố thuộc về giác ngộ, sẽ hoàn toàn tịch diệt ngay trong hiện tại.

Này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, ai là vị tỳ-kheo A-la-hán, người đã sạch nguồn ác, đã sống trọn vẹn, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã phá bỏ hoàn toàn các xiềng xích của cõi tồn tại, được giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì người đó được gọi là tối thượng giữa họ, dựa trên Quy luật, không phải dựa trên Điều sai. Này Vāseṭṭha, Quy luật là tối thượng giữa loài người, cả trong hiện tại và trong tương lai.

Này Vāseṭṭha, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói bài kệ này:

‘Sát-đế-lỵ là tối thượng giữa loài người,
đối với những ai coi trọng dòng dõi;
Nhưng người đầy đủ hiểu biết và hạnh kiểm,
người đó là tối thượng giữa chư thiên và loài người.’

Này Vāseṭṭha, bài kệ đó của Phạm thiên Sanaṅkumāra được hát lên đúng đắn, không phải hát sai; được nói lên khéo léo, không phải nói vụng về; có ý nghĩa lợi ích, không phải vô ích; và được Ta chấp thuận. Này Vāseṭṭha, Ta cũng nói như thế này:

‘Sát-đế-lỵ là tối thượng giữa loài người,
đối với những ai coi trọng dòng dõi;
Nhưng người đầy đủ hiểu biết và hạnh kiểm,
người đó là tối thượng giữa chư thiên và loài người.’

Thế Tôn đã nói như vậy. Vāseṭṭha và Bhāradvāja hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Nguồn Gốc Tối Sơ, bài kinh thứ tư.

30. Này Vàsettha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn… vị Vessà… Này Vàsettha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.

31. Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.

32. Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau:

Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsêttha và Bhàradvàja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.

-ooOoo-