Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 28. KINH NIỀM TIN TRONG SÁNG

(Sampasādanīyasutta)
Bản tóm tắt→

1. Tiếng rống sư tử của Sāriputta (Sāriputtasīhanāda)

Tôi nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú tại Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn điều này:

“Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối (tịnh tín - niềm tin trong sáng / pasanno) vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ (thắng tri / abhiññā) cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn (chánh giác / sambodhi).”

"Này Sāriputta, lời nói này của ông thật lớn lao, dũng mãnh, ông đã nắm bắt một cách quả quyết, đã rống lên tiếng rống sư tử: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn.’

Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, những bậc Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, và biết rằng: ‘Các Thế Tôn ấy có giới luật như thế này, các Thế Tôn ấy dạy Quy luật (pháp / dhamma) như thế này, các Thế Tôn ấy có trí tuệ như thế này, các Thế Tôn ấy có cách sinh sống như thế này, các Thế Tôn ấy có sự giải thoát như thế này’ không?"

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, những bậc Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong thời tương lai, và biết rằng: ‘Các Thế Tôn ấy sẽ có giới luật như thế này, các Thế Tôn ấy dạy Quy luật… có trí tuệ… có cách sinh sống… các Thế Tôn ấy sẽ có sự giải thoát như thế này’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, có phải ông hiện tại đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của Ta, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và biết rằng: ‘Thế Tôn có giới luật như thế này, Thế Tôn dạy Quy luật… có trí tuệ… có cách sinh sống… Thế Tôn có sự giải thoát như thế này’ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Sāriputta, ở đây ông không có khả năng đọc tâm trí người khác (tha tâm thông / cetopariyañāṇa) đối với các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Vậy thì tại sao, này Sāriputta, ông lại thốt ra lời nói lớn lao, dũng mãnh, nắm bắt một cách quả quyết, rống lên tiếng rống sư tử: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn’?”

"Bạch Thế Tôn, con không có khả năng đọc tâm trí người khác đối với các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Tuy nhiên, con đã biết được nguyên lý của Quy luật (pháp trạch / dhammanvaya). Giống như, bạch Thế Tôn, một thành phố biên ải của nhà vua, có nền móng vững chắc, có tường thành và tháp canh kiên cố, chỉ có một cổng duy nhất. Tại đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, sáng suốt, ngăn chặn những người không quen biết và cho phép những người quen biết đi vào. Người ấy đi dọc theo con đường vòng quanh thành phố, không nhìn thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, dù chỉ đủ cho một con mèo chui lọt. Người ấy suy nghĩ thế này: ‘Bất cứ sinh vật lớn, có thể nhìn thấy nào đi vào hay đi ra khỏi thành phố này, tất cả chúng đều phải đi vào hay đi ra qua cánh cổng này.’

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã biết được nguyên lý của Quy luật. Bạch Thế Tôn, tất cả các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, các Thế Tôn ấy đều đã từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) Năm điều làm mờ yếu (5 triền cái / pañca nīvaraṇe), những sự bám bẩn (tùy phiền não / upakkilese) của tâm làm suy yếu trí tuệ, đã thiết lập sự chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm (tứ niệm xứ / satipaṭṭhāna), đã phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (thất giác chi / satta sambojjhaṅge), và đã thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng. Bạch Thế Tôn, tất cả các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong thời tương lai, các Thế Tôn ấy cũng sẽ từ bỏ Năm điều làm mờ yếu, những sự bám bẩn của tâm làm suy yếu trí tuệ, sẽ thiết lập sự chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm, sẽ phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, và sẽ thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, cũng đã từ bỏ Năm điều làm mờ yếu, những sự bám bẩn của tâm làm suy yếu trí tuệ, đã thiết lập chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm, đã phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, và đã thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng.

Bạch Thế Tôn, ở đây con đã đi đến chỗ Thế Tôn để nghe về những Quy luật. Thế Tôn đã dạy Quy luật cho con, từ thấp đến cao, ngày càng tinh tế, phần đen và phần trắng đối chiếu nhau. Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn dạy Quy luật cho con từ thấp đến cao, ngày càng tinh tế, với sự phân biệt phần đen và phần trắng đối chiếu nhau như thế nào, thì theo đó con đạt được sự hiểu hết toàn bộ về Quy luật, đạt đến sự hoàn tất với Quy luật ấy trong các Quy luật; con có niềm tin tuyệt đối vào Bậc Đạo Sư: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Quy luật được Thế Tôn khéo giảng dạy, Tăng chúng đệ tử đang thực hành đúng đắn.’

1.1. Giảng dạy về những điều thiện (Kusaladhammadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về những điều thiện (pháp thiện / kusalesu dhammesu). Ở đây, những điều thiện là như sau — thiết lập chú tâm ở bốn nơi, bốn Siêng năng thiện (tứ chánh cần / sammappadhānā), bốn cổng thần thông (tứ như ý túc / iddhipādā), năm năng lực tinh thần (ngũ căn / pañcindriyāni), năm sức mạnh (ngũ lực / pañca balāni), Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, Tám Bước Thiện (bát chánh đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo). Ở đây, bạch Thế Tôn, vị tỳ kheo nhờ cạn kiệt (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong những điều thiện. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về những điều thiện.

28. KINH TỰ HOAN HỶ

(Sampasàdanìya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

1. Một thời, Thế Tôn ở tại Nàlandà, trong rừng Pàvàrikambavana. Lúc bấy giờ, tôn giả Sàriputta (Xálợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuốn một bên. Khì ngồi xuống một bên, tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn!

− Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.

− Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật là rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.” Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong tương lai, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong hiện tại Ta là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát Thế Tôn là như vậy?

− Bạch Thế Tôn, không!

− Này Sàriputta, hãy xem! Ngươi không có trí tuệ biết được tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai! Vậy sao, này Sàriputta, lời nói của Ngươi tuyên bố thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.”

2. Bạch Thế Tôn, con không có trí tuệ để được biết tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Bạch Thế Tôn, nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì ở biên cảnh, có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa thành ra vào. Cửa thành có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm, ngăn chận những người lạ, chỉ cho vào những ai quen biết. Người này, trong khi đi tuần tiểu xung quanh thành, có thể không thấy hết các chắp nối và khe hở của tường, nhỏ cho đến một con mèo thể đi qua được. Nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về Chánh pháp. Tất cả những vị A-lahán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả những bậc Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm và Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả những bậc Thế Tôn này sẽ diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, sẽ như thật tu hạnh Bảy Giác chi và sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, và nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

Và nay ở đây, con một thời yết kiến Thế Tôn để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu. Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn Thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu như vậy, nên trong sự thâm hiểu Chánh pháp, một pháp được con thâm hiểu trọn vẹn, đó là lòng tin của con vào vị Bổn Sư - Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng và chúng Tăng đã khéo hành trì.

1.2. Giảng dạy về sự gọi tên các trường giao tiếp (Āyatanapaṇṇattidesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự gọi tên các trường giao tiếp (xứ thi thiết / āyatanapaṇṇattīsu). Bạch Thế Tôn, có sáu trường (xứ / āyatana) bên trong và bên ngoài này. Mắt và hình ảnh, tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và Xúc, giác quan trí não (ý căn / mano) và mọi Điều (pháp / dhammā). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự gọi tên các trường giao tiếp. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về sự gọi tên các trường giao tiếp.

3. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về các thiện pháp. Ở đây những thiện pháp là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, ở đây vị Tỷ kheo tận diệt các lậu hoặc, có thể tự mình chứng tri và chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại, Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát vô lậu này. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng đối với các thiện pháp. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các thiện pháp.

4. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự trình bày các Nhập xứ. Bạch Thế Tôn, sáu nội xứ và ngoại xứ, tức là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về sự trình bày các Nhập xứ. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề trình bày các Nhập xứ.

1.3. Giảng dạy về sự đi vào bào thai (Gabbhāvakkantidesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự đi vào bào thai (thai tạng nhập / gabbhāvakkantīsu). Bạch Thế Tôn, có bốn sự đi vào bào thai này.

Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không nhận biết rõ ràng (asampajāno) khi đi vào bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng (sampajāno) khi đi vào bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng khi đi vào bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ ba.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng khi đi vào bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ tư.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự đi vào bào thai.

5. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề nhập thai. Bạch Thế Tôn, có bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, ở đây, có loại không biết mình nhập bụng người mẹ, không biết mình trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, nhưng không biết mình an trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai nhứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ, và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ ba.

Lại nữa Bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ và biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ tư. Ðây là bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề nhập thai.

1.4. Giảng dạy về cách thức đọc tâm (Ādesanavidhādesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức đọc tâm (tha tâm thông / ādesanavidhāsu). Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức đọc tâm này.

Ở đây, bạch Thế Tôn, có người đọc tâm thông qua dấu hiệu (nimitta): ‘Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.’ Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu. Nhưng sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên, người ấy đọc tâm: ‘Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.’ Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu, cũng không đọc tâm sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên. Nhưng sau khi nghe rung động nảy sinh từ quá trình suy nghĩ của một người đang chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / vitakkayato vicārayato), người ấy đọc tâm: ‘Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.’ Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ ba.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu, không đọc tâm sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên, cũng không đọc tâm sau khi nghe rung động nảy sinh từ quá trình suy nghĩ của một người đang chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý. Nhưng bằng tâm của mình, người ấy thấu hiểu tâm của một người đã nhập vào Định không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), và biết rõ: ‘Các hoạt động của tâm ý (ý hành / manosaṅkhāra) của vị này được hướng đến đâu, thì ngay sau trạng thái tâm ý này, vị ấy sẽ khởi lên tư duy có tên gọi này.’. Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ tư.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức đọc tâm.

6. Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề sai khác trong sự ký tâm. Bạch Thế Tôn có bốn loại ký tâm sai khác như thế này. Bạch Thế Tôn, có hạng tự tỏ lộ bằng hình tướng: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, nhưng tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi Người, phi nhân hay chư Thiên, mà tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm, tư duy: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ ba.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên, cũng không tự tỏ lộ, sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm và tư duy, nhưng khi chứng được định, không tầm, không tứ, có thể biết được tâm mgười khác với tâm của mình: “Tùy ước nguyện hợp ý hành của Tôn giả này, vị này sẽ hướng tâm đến tâm này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác”. Như vậy là loại ký tâm thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề ký tâm sai khác.

1.5. Giảng dạy về sự thành tựu về khả năng quan sát (Dassanasamāpattidesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự thành tựu về khả năng quan sát (kiến đạt / dassanasamāpattīsu). Bạch Thế Tôn, có bốn sự thành tựu về khả năng quan sát này.

Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm, nhờ nỗ lực, nhờ chuyên cần, nhờ sáng suốt (không phóng dật / appamāda), nhờ tìm hiểu bản chất (sammāmanasikāra) mà chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, thức ăn trong dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’ Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông… […lặp lại…] …dịch khớp, nước tiểu.’ Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông… […lặp lại…] …dịch khớp, nước tiểu.’ Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Và người ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) dòng chảy của nhận thức(‘Cái Biết’) (thức lưu / viññāṇasota) của con người, không bị đứt đoạn ở cả hai đầu, được thiết lập ở thế giới này và được thiết lập ở thế giới khác. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ ba.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: ‘Trong cơ thể này có tóc, lông… […lặp lại…] …dịch khớp, nước tiểu.’ Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Và người ấy biết rõ dòng chảy của nhận thức(‘Cái Biết’) của con người, không bị đứt đoạn ở cả hai đầu, không được thiết lập ở thế giới này và cũng không được thiết lập ở thế giới khác. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ tư.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự thành tựu về khả năng quan sát.

7. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: lúc Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề kiến định (dassanasamàpatti). Bạch Thế Tôn, có bốn loại kiến định như thế này: Ở đây bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quan sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Như vậy là kiến định thứ nhất.

Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Hơn nữa, vị ấy quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da. Như vậy là kiến định thứ hai.

Lại nữa bạch Thế Tôn,… Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là an trú cả đời này và an trú cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ ba.

Lại nữa, bạch Thế Tôn,… Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là không an trú cả đời này và cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượg về vấn đề kiến định.

1.6. Giảng dạy về sự phân loại người (Puggalapaṇṇattidesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự phân loại người (nhân thi thiết / puggalapaṇṇattīsu). Bạch Thế Tôn, có bảy hạng người này: người được giải thoát cả hai phần (ubhatobhāgavimutta), người được giải thoát qua trí tuệ (paññāvimutta), người chứng nghiệm qua cơ thể (kāyasakkhi), người đạt đến qua quan điểm (diṭṭhippatta), người được giải thoát qua niềm tin (saddhāvimutta), người đi theo Quy luật (dhammānusārī), người đi theo niềm tin (saddhānusārī). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự phân loại người.

8. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề phân loại các loại Người. Bạch Thế Tôn, có bảy loại Người như thế này: Câu giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín thắng giải, Tùy pháp hành, Tùy tín hành. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề phân loại loài Người.

1.7. Giảng dạy về sự nỗ lực (Padhānadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự nỗ lực (tinh cần / padhānesu). Bạch Thế Tôn, có bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (thất giác chi) này: dấu hiệu chú tâm (niệm giác chi), dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích (trạch pháp giác chi), dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi), dấu hiệu sự hân hoan (hỷ giác chi), dấu hiệu cơ thể lắng dịu (khinh an giác chi), dấu hiệu Định (định giác chi), dấu hiệu Tâm cân bằng (xả giác chi). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự nỗ lực.

9. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tinh cần. Bạch Thế Tôn có Bảy Giác chi như thế này: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề tinh cần.

1.8. Giảng dạy về cách thức thực hành (Paṭipadādesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức thực hành (hành đạo / paṭipadāsu).

Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức thực hành này:

  1. Thực hành đau khổ (khổ / dukkhā) với hiểu hết toàn bộ chậm chạp,
  2. Thực hành đau khổ với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng,
  3. Thực hành hạnh phúc (lạc / sukhā) với hiểu hết toàn bộ chậm chạp,
  4. Thực hành hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng.

Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào đau khổ với hiểu hết toàn bộ chậm chạp, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém ở cả hai mặt: vì tính chất đau khổ và vì tính chất chậm chạp. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào đau khổ với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém vì tính chất đau khổ. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ chậm chạp, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém vì tính chất chậm chạp. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thù thắng ở cả hai mặt: vì tính chất hạnh phúc và vì tính chất nhanh chóng.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức thực hành.

10. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tiến bộ trong sự tu hành (Patipàda = đạo hành). Bạch Thế Tôn, có bốn loại đạo hành như thế này: Hành trì khổ chứng ngộ chậm, hành trì khổ chứng ngộ mau, hành trì lạc chứng ngộ chậm, hành trì lạc chứng ngộ mau.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì cả hai phương diện đều được xem là hạ liệt, vừa khổ vừa chậm.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì khổ nên được gọi là hạ liệt.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì chậm nên được gọi là hạ liệt.

Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn sự hành trì này cả hai phương diện đều được xem là cao thượng, vừa lạc vừa mau. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề đạo hành (tiến bộ trên đường tu hành).

1.9. Giảng dạy về cách cư xử trong lời nói và các điều khác (Bhassasamācārādidesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách cư xử trong lời nói (ngôn ngữ sở hành / bhassasamācāre). Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không nói lời dính líu đến nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời vu khống, không nói lời sinh ra từ sự tranh cãi với mong muốn chiến thắng; người ấy suy nghĩ kỹ lưỡng rồi mới nói lời nói có giá trị lưu giữ, đúng thời điểm. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách cư xử trong lời nói.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách cư xử đạo đức của con người (purisasīlasamācāre). Ở đây, bạch Thế Tôn, có người chân thật và có niềm tin, không lừa đảo, không nịnh hót, không bóng gió, không chê bai, không dùng lợi lộc để tìm kiếm lợi lộc, bảo vệ (thu thúc / guttadvāro) các giác quan, biết chừng mực trong ăn uống, làm việc cân bằng, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, không lười biếng, nỗ lực kiên trì, hay hành Thiền, có chú tâm, có khả năng ứng đối tốt, có trí tuệ nhanh nhạy, có sự kiên định, có sự hiểu biết, không thèm khát (giddho) sự dễ chịu giác quan, có chú tâm và sáng suốt. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách cư xử đạo đức của con người.

11. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề chánh hạnh trong ngôn ngữ. Bạch Thế Tôn, ở đây, một người không những không nói những lời liên hệ đến nói láo, mà cũng phải, trong khi tìm cách thắng cuộc, không dùng lời vu khống, lời ác khẩu và lời ly gián; trái lại, người ấy nói lời từ hòa, sáng suốt, đáng được giữ gìn, và nói đúng thời. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về chánh hạnh trong ngôn ngữ.

12. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề giới hạnh của con người. Bạch Thế Tôn, ở đây, có người chân thật, thành tín, không dối trá, không lừa gạt, không gợi ý, không chiêm tướng, không lấy lợi câu lợi; hộ trì các căn, ăn uống tiết độ, hành động ôn hòa, luôn luôn cảnh giác, không chán nản, tinh cần, trầm tư, chánh niệm, ngôn từ lanh lợi, hành vi gan dạ, chịu đựng, biết điều, không tham dục, tỉnh giác, cẩn trọng. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giới hạnh của con người.

1.10. Giảng dạy về cách thức hướng dẫn (Anusāsanavidhādesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức hướng dẫn (giáo giới / anusāsanavidhāsu). Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức hướng dẫn này —

Bằng sự phân tích tận gốc rễ (yonisomanasikāra), Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt ba Xiềng Xích, sẽ trở thành bậc Nhập lưu (sotāpanno), không còn khả năng rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt ba Xiềng Xích và làm nhẹ sự đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), và Sự u mê (si / moha), sẽ trở thành bậc Nhất lai (sakadāgāmī), chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt phần dưới năm Xiềng Xích trói buộc (hạ phần kiết sử), sẽ sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātiko), nhập Niết-bàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới ấy nữa.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, do cạn kiệt các nguồn ác, sẽ tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó.’

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức hướng dẫn.

13. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự sai biệt trong sự giảng dạy. Bạch Thế Tôn, có bốn loại giảng dạy. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ được giác ngộ.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh và ở tại cảnh giới ấy nhập Niết bàn, không còn về lại đời này.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy hành trì như thế này, sẽ diệt trừ các lậu hoặc, tự mình giác tri, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề sai biệt trong sự giảng dạy.

1.11. Giảng dạy về Trí biết sự giải thoát của người khác (Parapuggalavimuttiñāṇadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Điều về Trí tuệ biết sự giải thoát của người khác (parapuggalavimuttiñāṇe).

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này đã cạn kiệt ba Xiềng Xích, sẽ trở thành bậc Nhập lưu, không còn khả năng rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này do cạn kiệt ba Xiềng Xích và làm mỏng nhẹ sự đắm nhiễm, ám ảnh khó chịu, và Sự u mê, sẽ trở thành bậc Nhất lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này do cạn kiệt năm Xiềng Xích trói buộc cõi dưới, sẽ sinh ra tự nhiên, nhập Niết-bàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới ấy nữa.’

Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: ‘Người này do cạn kiệt các nguồn ác, sẽ tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó.’ Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong ‘cái biết’ về sự giải thoát của người khác.

14. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về giải thoát trí của người khác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng quả Dự lưu, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng quả Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh, tự chỗ ấy nhập Niết bàn, không còn phải trở lại đời này.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này, diệt trừ các lậu hoặc, tự tri tự chứng, đạt đạo và an trú ngay trong đời hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giải thoát trí của người khác.

1.12. Giảng dạy về quan điểm tồn tại mãi mãi (Sassatavādadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về quan điểm tồn tại mãi mãi (thường kiến / sassatavādesu). Bạch Thế Tôn, có ba quan điểm tồn tại mãi mãi này.

Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.’ Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: ‘Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại hay thế giới giãn nở ra. Ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại hay thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.’ Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một chu kỳ co rút-giãn nở, hai chu kỳ co rút-giãn nở, ba chu kỳ… bốn chu kỳ… năm chu kỳ… mười chu kỳ co rút-giãn nở: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này… […lặp lại…] …sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.’ Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: ‘Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại hay thế giới giãn nở ra. Ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại hay thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.’ Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — mười chu kỳ co rút-giãn nở, hai mươi chu kỳ… ba mươi chu kỳ… bốn mươi chu kỳ co rút-giãn nở: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này… […lặp lại…] …sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.’ Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: ‘Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại và thế giới giãn nở ra; ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại và thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.’ Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ ba.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong các quan điểm tồn tại mãi mãi.

15. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thường trú luận. Bạch Thế Tôn, có ba loại Thường trú luận như thế này. Bạch Thế Tôn ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn , nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói rằng: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành hoại kiếp. Nhưng trong tương lai tôi không được biết thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngả và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá. Còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ nhất.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, bốn thành kiếp hoại kiếp, năm thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới sẽ là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ hai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay trong thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vứng chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sống lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ ba. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Thường trú luận.

1.13. Giảng dạy về Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ (Pubbenivāsānussatiñāṇadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ (túc mạng trí / pubbenivāsānussatiñāṇe). Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ co rút, nhiều chu kỳ giãn nở, nhiều chu kỳ co rút-giãn nở: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này… […lặp lại…] …sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.’ Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những chư thiên mà tuổi thọ của họ không thể tính đếm bằng phép đếm hay phép tính. Tuy nhiên, dù người ấy đã từng sinh sống trong bất kỳ hình thể nào, dù là có vật chất (sắc / rūpīsu) hay không có vật chất (vô sắc / arūpīsu), dù là có nhận thức (hữu tưởng / saññīsu) hay không có nhận thức (vô tưởng / asaññīsu), hay Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng / nevasaññīnāsaññīsu). Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ.

16. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Túc mạng trí. Bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp thành kiếp. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy, vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những chư Thiên, mà tuổi thọ không thể đếm được hay không thể tính được. Nhưng dưới bất cứ ngã thể nào được có trong quá khứ, hoặc có sắc hay không sắc, hoặc có tưởng hay không tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, chúng nhớ đến đời quá khứ với các đặc điểm và chi tiết như vậy. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Túc mạng trí.

1.14. Giảng dạy về Trí tuệ về sự chết và tái sinh (Cutūpapātañāṇadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về Trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh (sinh tử trí / cutūpapātañāṇe). Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, có số phận tốt và số phận xấu, người ấy biết rõ các chúng sinh đi theo hành động (nghiệp) của mình: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành động xấu của thân, hành động xấu của lời nói, hành động xấu của ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhikā), hành động theo quan điểm sai. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi dữ, số phận xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Còn những chúng sinh này có hành động tốt của thân, hành động tốt của lời nói, hành động tốt của ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhikā), hành động theo Nhìn thấy Thiện. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào số phận tốt, thế giới cõi trời.’ Như vậy, với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, có số phận tốt và số phận xấu, người ấy biết rõ các chúng sinh đi theo hành động của mình. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong Trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh.

17. Lại nữa, bạch Thế Tôn điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Sanh tử trí của các loài hữu tình. Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ: “Này các Hiền giả, những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo Chánh kiến, tạo các nghiệp theo Chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Sanh tử trí của các loại hữu tình.

1.15. Giảng dạy về các loại thần thông (Iddhividhadesanā)

Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về các loại thần thông (thần túc thông / iddhividhāsu). Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông này — có loại thần thông, bạch Thế Tôn, đi kèm với nguồn ác, còn bám víu (hữu y / saupadhikā), được gọi là ‘không thuộc về bậc thánh’. Có loại thần thông, bạch Thế Tôn, không có nguồn ác, không còn bám víu (vô y / anupadhikā), được gọi là ‘thuộc về bậc thánh’.

Thế nào là loại thần thông đi kèm với nguồn ác, còn bám víu, được gọi là ‘không thuộc về bậc thánh’? Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm… […lặp lại…] …chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau — từ một người biến thành nhiều người, từ nhiều người biến thành một người; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua tường, qua rào, qua núi mà không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên từ mặt đất như ở trong nước; đi trên nước mà không chìm như đi trên đất; ngồi kiết già bay trong không gian như con chim có cánh; chạm và xoa vuốt mặt trăng mặt trời vốn có sức mạnh và uy lực lớn như vậy bằng bàn tay; kiểm soát cơ thể cho đến tận cõi Phạm thiên. Đây là loại thần thông, bạch Thế Tôn, đi kèm với nguồn ác, còn bám víu, được gọi là ‘không thuộc về bậc thánh’.

Còn thế nào là loại thần thông không có nguồn ác, không còn bám víu, được gọi là ‘thuộc về bậc thánh’? Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu vị tỳ kheo mong muốn: ‘Mong sao ta an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đáng ghê tởm’, thì vị ấy an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong sao ta an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều không đáng ghê tởm’, thì vị ấy an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong sao ta an trú với nhận thức không ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm’, thì vị ấy an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong sao ta an trú với nhận thức ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm’, thì vị ấy an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong sao ta loại bỏ cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm, an trú với Tâm bình thản (xả / upekkhā), có chú tâmnhận biết rõ ràng’, thì vị ấy an trú với Tâm bình thản đối với điều đó, có chú tâmnhận biết rõ ràng. Đây là loại thần thông, bạch Thế Tôn, không có nguồn ác, không còn bám víu, được gọi là ‘thuộc về bậc thánh’.

Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong các loại thần thông. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về các loại thần thông.

18. Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thần túc thông. Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông như thế này. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh”.

Bạch Thế Tôn, thế nào là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”? Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ cần mẫn, nhờ bất phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy chứng được nhiều loại Thần túc thông sai khác. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân. Hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Bạch Thế Tôn, như vậy là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”.

Bạch Thế Tôn, thế nào là thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh?” Ở đây, bạch Thế Tôn vị Tỷ kheo, nếu vị này muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch và đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Loại bỏ cả hai đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, và ở đây vị ấ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Bạch Thế Tôn, như vậy là thần thông vô lậu, vô dư y, và được gọi là “bậc Thánh”.

Bạch Thế Tôn, như vậy là vô thượng về các loại Thần túc thông. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết, và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác, có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các loại Thần túc thông.

1.16. Thấy rõ các phẩm chất khác của Bậc Đạo Sư (Aññathāsatthuguṇadassana)

Bạch Thế Tôn, những gì mà một người con trai gia đình có niềm tin cần phải đạt được bằng nỗ lực kiên trì, bằng sức mạnh, bằng sức mạnh của con người, bằng nỗ lực của con người, bằng sự dũng cảm của con người, bằng sự gánh vác của con người, thì Thế Tôn đã đạt được điều đó. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không đắm chìm trong sự dễ chịu giác quan, không chạy theo sự đam mê dục lạc — vốn thấp kém, phàm tục, thuộc về người thường, không thuộc về bậc thánh, không mang lại lợi ích; Thế Tôn cũng không chạy theo sự tự hành xác — vốn đau khổ, không thuộc về bậc thánh, không mang lại lợi ích. Thế Tôn là người đạt được theo ý muốn, đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc bốn trạng thái Thiền-na thuộc về tâm trí cao thượng, mang lại sự an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại.

19. Bạch Thế Tôn, những gì có thể đạt được bởi một thiện nam tử có lòng tin, có tinh tấn, có kiên trì bởi sự kiên trì của con người, bởi sự tinh tấn của con người, bởi sự tiến bộ của con người, bởi sự nhẫn nhục của con người, đều được Thế Tôn chứng đạt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có đam mê các dục lạc, dục lạc này là đê tiện, hèn hạ, thuộc phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn cũng không đam mê tu hành khổ hạnh, khổ hạnh này là khổ, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn có thể đạt được nếu Ngài muốn, một cách dễ dàng, một cách đầy đủ, sự hạnh phúc ngay trong hiện tại, do bốn Thiền định đem lại.

1.17. Cách thức trả lời khi bị chất vấn (Anuyogadānappakāra)

Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: ‘Này bạn Sāriputta, có phải trong thời quá khứ đã có những sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’. ‘Này bạn Sāriputta, có phải trong thời tương lai sẽ có những sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’. ‘Này bạn Sāriputta, có phải hiện tại có sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’.

Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: ‘Này bạn Sāriputta, có phải trong thời quá khứ đã có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Có’. ‘Này bạn Sāriputta, có phải trong thời tương lai sẽ có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Có’. ‘Này bạn Sāriputta, có phải hiện tại có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’.

Nhưng bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: ‘Tại sao Tôn giả Sāriputta lại thừa nhận một điều và không thừa nhận một điều khác?’, khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ giải thích như sau: ‘Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: “Trong thời quá khứ đã có các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với Ta về sự giác ngộ hoàn toàn.” Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: “Trong thời tương lai sẽ có các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với Ta về sự giác ngộ hoàn toàn.” Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: “Không có chỗ, không có khả năng để trong cùng một hệ thống thế giới lại có hai bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc, không trước không sau, điều đó không thể xảy ra.”’

Bạch Thế Tôn, khi bị hỏi như vậy và giải thích như vậy, con có phải là người nói đúng lời của Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, giải thích Quy luật thuận theo Quy luật, và không có một người bạn đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách không?"

“Chắc chắn rồi, này Sāriputta, khi bị hỏi như vậy và giải thích như vậy, ông là người nói đúng lời của Ta, không xuyên tạc Ta bằng điều không thật, giải thích Quy luật thuận theo Quy luật, và không có một người bạn đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách.”

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, còn sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con trả lời không. Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi như vậy con trả lời không.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có. “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sàriputta, trong thời hiện tại, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời không.

Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Vì sao, Tôn giả Sàriputta một mặt thì xác nhận là có, một mặt xác nhận là không có?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con sẽ trả lời: “Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn, tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời quá khứ, có vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời vị lai, có các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói từ nơi Ngài tôi có nghi nhận: “Không có trường hợp, không có sự kiện trong một thế giới, hai vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cùng xuất hiện ở đời, không trước, không sau. Sự kiện như vậy không thể xảy ra”. Bạch Thế Tôn, có phải khi được hỏi và trả lời như vậy, con đã nói lên đúng ý với Thế Tôn, không có sai lạc, không có hiểu lầm Thế Tôn? Có phải con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp? Có phải không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích phê bình?

− Này Sàriputta, được hỏi và trả lời như vậy, Ngươi đã nói lên đúng ý với Ta, không có sai lạc, không có hiểu lầm Ta. Ngươi đã trả lời thuận pháp và đúng pháp. Không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích, phê bình.

2. Điều kỳ diệu và phi thường (Acchariyaabbhuta)

Khi được nói như vậy, Tôn giả Udāyī thưa với Thế Tôn điều này: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Sự ít mong muốn (ít dục / appicchatā), sự biết đủ (tri túc / santuṭṭhitā), sự gọt giũa (khổ hạnh / sallekhatā) của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân. Bạch Thế Tôn, nếu các du sĩ ngoại đạo tìm thấy ở bản thân họ dù chỉ một Điều trong số những Điều này, họ sẽ giương cờ đi khắp nơi. Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân.”

“Này Udāyī, hãy xem sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân. Này Udāyī, nếu các du sĩ ngoại đạo tìm thấy ở bản thân họ dù chỉ một Điều trong số những Điều này, họ sẽ giương cờ đi khắp nơi. Này Udāyī, hãy xem sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân.”

Sau đó, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta: “Vì vậy, này Sāriputta, ông nên thường xuyên giảng dạy bài kinh này cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Này Sāriputta, đối với những kẻ ngu muội nào có sự nghi ngờ hay phân vân về Như Lai, sau khi nghe bài kinh này, sự nghi ngờ hay phân vân của họ về Như Lai sẽ bị từ bỏ.”

Như vậy, Tôn giả Sāriputta đã bày tỏ sự trong sáng ngay trước mặt Thế Tôn. Do đó, bài giảng này được gọi là “Làm cho niềm tin trong sáng” (Sampasādanīya).

Kinh Làm cho niềm tin trong sáng kết thúc, là bài kinh thứ năm.

20. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:

− Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Bạch Thế Tôn, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình chứng được dầu chỉ có một pháp, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ.

− Hãy ghi nhận, này Udàyi! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Này Udàyi, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình dầu chỉ có một pháp như vậy, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Này Udàyi hãy ghi nhận! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà khong tự mình tỏ lộ.

21. Rồi Thế Tôn bảo tôn giả Sàriputta:

− Vậy Sàriputta, Ngươi phải luôn luôn thuyết pháp phân biệt này cho các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, các Nam cư sĩ và các Nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những kẻ ngu nào còn nghi ngờ hay ngần ngại đối với Như Lai, nếu họ được nghe pháp phân biệt này, nghi ngờ hay ngần ngại của họ đối với Như Lai sẽ được diệt trừ.

Như vậy, tôn giả Sàriputta nói lên lòng hoan hỷ của mình đối với Thế Tôn. Do vậy, danh từ “Sam pasàdaniyam, Tự hoan hỷ” được dùng cho câu trả lời này.

-ooOoo-