Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 13. Kinh Tam Minh

Tevijjasutta

TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn đông đảo gồm năm trăm vị tỳ kheo khi Ngài đến một làng của các vị Bà-la-môn (brahmins / giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ) xứ Kosala tên là Manasākaṭa.638 Ngài trú tại một khu rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, về phía bắc Manasākaṭa.639

Lúc bấy giờ, có nhiều vị Bà-la-môn rất nổi tiếng và giàu có đang cư ngụ tại Manasākaṭa. Trong số đó có các Bà-la-môn Caṅkī, Tārukkha, Pokkharasāti, Jānussoṇi, Todeyya, và những vị khác.

Khi ấy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi dạo thì bắt đầu một cuộc thảo luận về đâu là con đường chân chính và đâu không phải là con đường chân chính.640

Vāseṭṭha nói thế này: "Đây là con đường thẳng duy nhất, con đường trực tiếp đưa người thực hành nó đến cõi của Phạm Thiên (Divinity / vị trời ở cõi Phạm Thiên, một khái niệm về đấng sáng tạo hoặc vị thần tối cao trong Bà-la-môn giáo); đó chính là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giải thích."641

Bhāradvāja nói thế này: "Đây là con đường thẳng duy nhất, con đường trực tiếp đưa người thực hành nó đến cõi của Phạm Thiên; đó chính là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giải thích."642

Nhưng không ai thuyết phục được người kia. Vì vậy, Vāseṭṭha nói với Bhāradvāja: “Này Bhāradvāja, Sa-môn Cồ-đàm (ascetic Gotama / nhà tu khổ hạnh Cồ-đàm)—một người thuộc dòng tộc Thích Ca, xuất gia từ dòng tộc Thích Ca—đang trú tại một khu rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, về phía bắc Manasākaṭa. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: ‘Vị Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời) ấy là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn), một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / người có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đã đi qua con đường tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc thầy tối cao hướng dẫn những người muốn tu tập), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), là một vị Phật (awakened / bậc giác ngộ), một vị Thế Tôn.’ Nào, chúng ta hãy đến gặp Ngài và hỏi Ngài về vấn đề này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Vâng, thưa ngài,” Bhāradvāja đáp.

13. KINH TEVIJJA (TAM MINH)

(Tevijja Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành ở Kosala (Câu-tát-la) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đi đến một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Manasàkata. Tại đây, ở Manasakata, Thế Tôn trú tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravati (A-trí-la-phạt-để), phía Bắc làng Manasàkata.

2. Lúc bấy giờ, nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào ở tại Manasàkata như Bà-la-môn Canki (Thườnggià), Bà-la-môn Tàrukkha (Ða-lê-xa) Bà-la-môn Pokkharasàti (Phí-già-la-bà-la), Bà-la-môn Jànussoni (Sanh Lậu), Bà-la-môn Todeyya (Ðạo-đề-da) và nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào khác.

3. Lúc bấy giờ, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa Vàsettha (Bà-tất-sá) và Bhàradvàja (Bạt-la-đà-phạn-xà) trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng, vừa đi vừa suy nghĩ tư duy.

4. Thanh niên Bà-la-môn Vàsettha nói:

− Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy;

5. Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói:

− Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy.

6. Thanh niên Bà-la-môn Vàsettha không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja và thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja, cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Vàsettha.

7. Khi ấy thanh niên Bà-la-môn Vàsettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja:

− Này Bhàradvàja, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay trú ở Manasàkata, tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravati, phía Bắc làng Manasàkata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Bhàradvàja, hãy đến Sa-môn Gotama và hỏi Sa-môn Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

− Tôn giả, xin vâng!

Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja trả lời với thanh niên Bà-la-môn Vàsettha.

1. Con Đường Chân Chính và Con Không Đường Chân Chính

Vậy là họ đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, họ ngồi sang một bên và Vāseṭṭha kể lại cuộc nói chuyện của họ, rồi nói thêm: “Về vấn đề này, chúng con có sự tranh luận, bất đồng, khác biệt ý kiến.”

“Vậy, này Vāseṭṭha, có vẻ như con nói rằng con đường thẳng là con đường do Pokkharasāti giải thích, trong khi Bhāradvāja nói rằng con đường thẳng là con đường do Tārukkha giải thích. Nhưng chính xác thì các con bất đồng về điều gì?”

"Thưa ngài Cồ-đàm, về đâu là con đường chân chính và đâu không phải là con đường chân chính. Mặc dù các Bà-la-môn mô tả những con đường khác nhau—các Bà-la-môn Adhvaryu, các Bà-la-môn Taittirīya, các Bà-la-môn Chāndogya, các Bà-la-môn Cāndrāyaṇa, và các Bà-la-môn Bahvṛca—tất cả những con đường đó đều dẫn người thực hành chúng đến cõi của Phạm Thiên.643

Giống như một ngôi làng hay thị trấn có nhiều con đường khác nhau ở gần đó, nhưng tất cả chúng đều gặp nhau tại ngôi làng đó.644 Tương tự như vậy, mặc dù các Bà-la-môn mô tả những con đường khác nhau—các Bà-la-môn Adhvaryu, các Bà-la-môn Taittirīya, các Bà-la-môn Chāndogya, các Bà-la-môn Cāndrāyaṇa, và các Bà-la-môn Bahvṛca—tất cả những con đường đó đều dẫn người thực hành chúng đến cõi của Phạm Thiên."

8. Lúc bấy giờ hai thanh niên Bà-la-môn Vàsettha và Bhàradvàja đến Thế Tôn, khi đã đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, khi ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa hai chúng tôi trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng vừa đi vừa suy nghĩ, tư duy. Tôi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy”. Thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy”. Tôn giả Gotama, đó là sự tranh luận, sự luận chấp, đó là sự bất đồng ý kiến.

9. Này Vàsettha, Ngươi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasàti giảng dạy”. Còn thanh niên Bà-la-môn Bhàradvàja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tàrukkha giảng dạy”. Này Vàsettha, ở nơi đây tranh biện về vấn đề gì, luận chấp về vấn đề gì và bất đồng ý kiến về vấn đề gì?

10. - Tôn giả Gotama, về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác như các vị Bà-la-môn Addhàriyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, và các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandavà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà - tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Tôn giả Gotama, như gần làng hay gần trị trấn có nhiều con đường sai khác, nhưng tất cả con đường này đều dẫn đến làng. Cũng vậy, Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác - như các Bà-la-môn Addhariyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandàvà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà. Tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo.

2. Chất Vấn Vāseṭṭha

“Này Vāseṭṭha, con có nói, ‘chúng dẫn dắt một người’ không?”

“Con có nói vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Này Vāseṭṭha, con có nói, ‘chúng dẫn dắt một người’ không?”

“Con có nói vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Này Vāseṭṭha, con có nói, ‘chúng dẫn dắt một người’ không?”

“Con có nói vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà (three Vedas / ba bộ kinh Vệ-đà cổ của Bà-la-môn giáo), có dù chỉ một người nào đã tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên chưa?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

“Vậy, có dù chỉ một người thầy của họ đã tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên chưa?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

“Vậy, có dù chỉ một người thầy của thầy họ đã tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên chưa?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

“Vậy, có ai ngược dòng đến bảy đời thầy của họ đã tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên chưa?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Vậy, còn các vị hiền triết cổ xưa của các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà, cụ thể là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu thì sao? Họ là những người sáng tác và truyền bá các thánh ca (hymns / các bài ca tán tụng thần linh). Tuyển tập thánh ca của họ đã được hát, truyền bá và biên soạn từ thời cổ đại; và ngày nay, các Bà-la-môn vẫn tiếp tục hát và tụng niệm nó, tụng lại những gì đã được tụng và dạy lại những gì đã được dạy.645 Họ có nói rằng: ‘Chúng tôi biết và thấy Phạm Thiên ở đâu hay Ngài ở phương nào’ không?"646

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Vậy có vẻ như không một Bà-la-môn nào trong số đó đã tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên, và ngay cả các vị hiền triết cổ xưa cũng không tuyên bố biết Ngài ở đâu. Tuy nhiên, các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà lại nói: ‘Chúng tôi dạy con đường đến cõi của đấng mà chúng tôi không biết cũng không thấy. Đây là con đường thẳng duy nhất, con đường trực tiếp đưa người thực hành nó đến cõi của Phạm Thiên.’ Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Sự việc là như vậy, chẳng phải lời tuyên bố của họ hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?"647

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến?”

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Này Vàsettha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

− Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn dến”.

12. - Thế nào Vàsettha? Có Bà-la-môn nào trong những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà tận mặt đã thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

− Thế nào Vàsettha? Có tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

− Thế nào Vàsettha? Có Bà-la-môn nào cho đến bảy đời tôn sư và đại tôn sư của những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt nhìn thấy Phạm thiên?

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

13. - Thế nào, này Vàsettha. Những vị tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và ngâm giảng như các vị Atthaka (A-sá-ca) Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma-đề-bà), Angirasa (Ương kỳ-sá), Bhàradvàja (Bạt-la-đà-phan-xà), Vàsettha (Bà-tất-sá), Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cữu), những vị này có nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy chỗ ở Phạm thiên, chỗ đến Phạm thiên, chỗ đi Phạm thiên?”

− Tôn giả Gotama, không có vị nào.

14. - Này Vàsettha, như vậy Ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên - không có một tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại tôn sư nào của ác Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên - không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vi trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmita, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các bà Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”.

Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Vì không thể nào họ lại dạy con đường đến với cái mà họ không biết cũng không thấy. Giả sử có một hàng người mù, mỗi người nắm lấy người phía trước: người đầu tiên không thấy, người ở giữa không thấy, và người cuối cùng cũng không thấy.648 Tương tự như vậy, Ta thấy rằng lời tuyên bố của các Bà-la-môn hóa ra cũng giống như một hàng người mù: người đầu tiên không thấy, người ở giữa không thấy, và người cuối cùng cũng không thấy. Lời tuyên bố của họ hóa ra là một trò đùa—chỉ là lời nói suông, trống rỗng và vô nghĩa.

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà có nhìn thấy mặt trời và mặt trăng giống như những người khác không? Và họ có cầu nguyện, tán dương mặt trời mặt trăng, chắp tay tôn thờ theo hành trình của chúng từ lúc mọc đến lúc lặn không?"649

“Thưa có, ngài Cồ-đàm.”

"Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Mặc dù vậy, các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà có thể dạy con đường đến cõi của mặt trời và mặt trăng, nói rằng: ‘Đây là con đường thẳng duy nhất, con đường trực tiếp đưa người thực hành nó đến cõi của mặt trời và mặt trăng’ không?"650

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

“Vậy có vẻ như mặc dù các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà nhìn thấy mặt trời và mặt trăng, họ không thể dạy con đường đến cõi của mặt trời và mặt trăng. Nhưng có vẻ như mặc dù họ chưa từng tận mắt nhìn thấy Phạm Thiên, họ vẫn tuyên bố dạy con đường đến cõi của đấng mà họ không biết cũng không thấy. Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Sự việc là như vậy, chẳng phải lời tuyên bố của họ hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Vì không thể nào họ lại dạy con đường đến với cái mà họ không biết cũng không thấy.

15. - Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không thể có sự kiện ấy. Này Vàsettha, ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Như vậy, này Vàsettha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, người đầu không thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy, giống như lời nói mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như vậy là lời nói đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng.

16. - Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác - có thể thấy mặt trăng, mặt trời không, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn?

− Thưa vâng, Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác có thể thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn.

17. - Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà - như phần đông nhiều người khác thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng mặt trời mọc và lặn, những vị này có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời không? Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo?

− Tôn giả Gotama, không thể được!

18. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác, thấy mặt trăng, mặt trời trong khi các vị này cầu khẩn tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn, những vị này không có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cọng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo”. Ngươi cũng nói các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói trong những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy - như các vị Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Anigirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?”

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy, thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

− Lành thay, này Vàsettha! Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

2.1. Ví Dụ về Người Phụ Nữ Đẹp Nhất Xứ

Giả sử có một người đàn ông nói: ‘Bất cứ ai là người phụ nữ đẹp nhất xứ, chính là người tôi muốn, người tôi khao khát!’

Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh khao khát đó—anh có biết cô ấy thuộc dòng dõi quý tộc, Bà-la-môn, thường dân hay tiện dân không?’ Được hỏi vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’

Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà anh khao khát đó—anh có biết tên hay dòng họ của cô ấy không? Cô ấy cao, thấp hay tầm thước? Da cô ấy đen, nâu hay vàng sậm? Cô ấy đến từ làng nào, thị trấn nào hay thành phố nào?’

Được hỏi vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’

Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, anh khao khát một người mà anh chưa từng biết hay thấy sao?’

Được hỏi vậy, anh ta sẽ nói: ‘Có.’

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Sự việc là như vậy, chẳng phải lời nói của người đàn ông đó hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?"

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Tương tự như vậy, chẳng phải lời tuyên bố của các Bà-la-môn đó cũng hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Vì không thể nào họ lại dạy con đường đến với cái mà họ không biết cũng không thấy.

19. Này Vàsettha, như có người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp mà Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bàla-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẩm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, ấp nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và đã ái luyến một người Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?

Vâng phải, Tôn giả Gotama. Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh xác, hợp lý.

20. - Cũng vậy, này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia các thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, cũng trì tụng và giảng dạy như các vị Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý? − Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

− Lành thay, Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không có sự kiện ấy.

2.2. Ví Dụ về Cái Thang

Giả sử có một người đàn ông định dựng một cái thang ở ngã tư đường để trèo lên một ngôi nhà sàn dài.

Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, ngôi nhà sàn dài mà anh đang dựng thang cho đó—anh có biết nó ở phía bắc, nam, đông hay tây không? Hay nó cao, thấp hay tầm thước?’

Được hỏi vậy, anh ta sẽ nói: ‘Không.’

Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này anh, anh đang dựng thang cho một ngôi nhà sàn mà anh chưa từng biết hay thấy sao?’

Được hỏi vậy, anh ta sẽ nói: ‘Có.’

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Sự việc là như vậy, chẳng phải lời nói của người đàn ông đó hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?"

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Tương tự như vậy, chẳng phải lời tuyên bố của các Bà-la-môn đó cũng hóa ra không có cơ sở chứng minh nào sao?”

“Rõ ràng là như vậy, thưa ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha. Vì không thể nào họ lại dạy con đường đến với cái mà họ không biết cũng không thấy.

21. Này Vàsettha, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?”. Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?”. Hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vàsettha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói người kia không chánh xác, hợp lý?

− Vâng phải, bạch Thế Tôn. Sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

22. - Cũng vậy, này Vàsettha. Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Người cũng nói trong những ẩn sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được bình tán và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy - như các vị Atthaka, Vamaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu?” Như vậy các Bàla-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vàsettha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

− Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chính xác hợp lý.

23. - Lành thay, Vàsettha. Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

2.3. Ví Dụ về Sông Aciravatī

Giả sử sông Aciravatī đầy nước đến mức một con quạ có thể uống được. Rồi có một người muốn qua bờ bên kia. Đứng ở bờ bên này, người đó sẽ gọi sang bờ bên kia: ‘Bờ bên kia ơi, lại đây! Bờ bên kia ơi, lại đây!’

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Liệu bờ bên kia của sông Aciravatī có qua bờ bên này vì lời gọi, yêu cầu, mong muốn hay kỳ vọng của người đàn ông đó không?"

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Tương tự như vậy, Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà hành xử bằng cách từ bỏ những điều làm nên một Bà-la-môn chân chính, và thực hiện những điều không làm nên một Bà-la-môn chân chính. Tuy nhiên họ lại nói:651 'Chúng tôi kêu gọi Indra! Chúng tôi kêu gọi Soma! Chúng tôi kêu gọi Varuṇa! Chúng tôi kêu gọi Īsāna! Chúng tôi kêu gọi Đấng Sáng Tạo! Chúng tôi kêu gọi Phạm Thiên! Chúng tôi kêu gọi Mahinda! Chúng tôi kêu gọi Yama!'652

Chừng nào họ còn hành xử theo cách này, không thể nào sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên.

Giả sử sông Aciravatī đầy nước đến mức một con quạ có thể uống được. Rồi có một người muốn qua bờ bên kia. Nhưng khi còn ở bờ bên này, tay người đó bị trói chặt sau lưng bằng một sợi xích chắc chắn.

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Người đó có thể qua được bờ bên kia không?"

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Tương tự như vậy, năm loại kích thích giác quan được gọi là ‘xiềng xích’ và ‘trói buộc’ trong sự tu tập của bậc Thánh. Năm loại đó là gì? Các cảnh sắc được biết bởi mắt, vốn đáng ưa thích, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan và khêu gợi. Các âm thanh được biết bởi tai… Các mùi hương được biết bởi mũi… Các vị nếm được biết bởi lưỡi… Các xúc chạm được biết bởi thân, vốn đáng ưa thích, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan và khêu gợi.

24. Này Vàsettha, như sông Aciravati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người đứng bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia, hãy lại đây! Bờ bên kia, hãy lại đây”. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati đến bờ bên này không?

− Tôn giả Gotama, không thể vậy.

25. - Cũng vậy, này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, những vị này đã nói: “Chúng tôi cầu khẩn Indra (Nhân-đà-la), chúng tôi cầu khẩn Soma (Tô-ma), chúng tôi cầu khẩn Vanena (Bà-lưu-va), chúng tôi cầu khẩn Isàna (Y-sa-na), chúng tôi cầu khẩn Pajàpati (Sanh chủ), chúng tôi cầu khẩn Brahmà (Phạm thiên), chúng tôi cầu khẩn Mahiddhi (Ma-hi-đề), chúng tôi cầu khẩn Yama (Dạ-ma). Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà ấy, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn vì kêu gọi, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, những vị ấy sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không có sự kiện ấy.

26. - Này Vàsettha, như sông Aciravati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tiến đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia, và muốn lội qua bờ bên kia. Người này đứng bên bờ này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia hãy lại đây! Bờ bên kia hãy lại đây!” Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati đến bờ bên này không?

− Tôn giả Gotama, không thể vậy.

Đây là năm loại kích thích giác quan được gọi là ‘xiềng xích’ và ‘trói buộc’ trong sự tu tập của bậc Thánh. Các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà hưởng thụ năm loại kích thích giác quan này, bị trói buộc, say đắm, dính mắc, không thấy được những nguy hại, và không hiểu được sự thoát ly. Chừng nào họ còn hưởng thụ chúng, không thể nào sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên.

Giả sử sông Aciravatī đầy nước đến mức một con quạ có thể uống được. Rồi có một người muốn qua bờ bên kia. Nhưng người đó lại nằm xuống, trùm vải kín từ đầu đến chân.

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Người đó có thể qua được bờ bên kia không?"

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

27. - Cũng vậy, này Vàsettha, có năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh. Năm pháp này được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Những sắc pháp do mắt cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục, ái lạc; những tiếng do tại cảm nhận… những hương do mũi cảm nhận… những vị do lưỡi cảm nhận… những xúc do thân cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục lạc. Này Vàsettha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Này Vàsettha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, đã tận hưởng năm pháp ấy.

28. - Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn , tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, tận hưởng chúng, bị trói buộc bởi sự trói buộc của dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên, thật không có sự kiện ấy.

29. - Này Vàsettha, như sông Acivarati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người này ở bên bờ này trùm đầu và nằm ngủ. Này Vàsettha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể từ bên này của sông Aciravati đến bờ bên kia không?

− Tôn giả Gotama, không có thể được.

"Tương tự như vậy, năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại tinh thần cản trở thiền định và tuệ giác) được gọi là ‘chướng ngại’, ‘cản trở’, ‘bao bọc’ và ‘che lấp’ trong sự tu tập của bậc Thánh. Năm loại đó là gì? Triền cái dục tham (sensual desire / ham muốn các dục lạc), sân hận (ill will / lòng căm ghét, tức giận), tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ (dullness and drowsiness / hôn trầm và thụy miên, trạng thái tâm trí mệt mỏi, thiếu tỉnh táo và buồn ngủ), tâm bất an và hối tiếc (restlessness and remorse / trạo cử và hối quá, trạng thái tâm không yên, lo lắng và hối hận về việc đã làm), và hoài nghi (doubt / nghi, sự không chắc chắn, thiếu niềm tin). Năm triền cái này được gọi là ‘chướng ngại’, ‘cản trở’, ‘bao bọc’ và ‘che lấp’ trong sự tu tập của bậc Thánh.

Các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà bị năm triền cái này làm chướng ngại, cản trở, bao bọc và che lấp. Chừng nào họ còn bị chướng ngại như vậy, không thể nào sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên.

30. - Cũng vậy, này Vàsettha, có năm triền cái được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Dục cái, sân cái, hôn trầm thụy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Này Vàsettha, năm triền cái này được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược. Này Vàsettha, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái này, Này Vàsettha, thật vậy, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

3. Hội Ngộ

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Con có nghe các Bà-la-môn lớn tuổi và cao niên, những người thầy của các thầy, nói rằng Phạm Thiên có bị ràng buộc bởi của cải vật chất hay không?"

“Rằng Ngài không bị ràng buộc, thưa ngài Cồ-đàm.”

“Tâm Ngài có đầy thù hận hay không?”

“Không có.”

“Tâm Ngài có đầy sân hận hay không?”

“Không có.”

“Tâm Ngài có bị ô nhiễm hay không?”

“Không bị.”

“Ngài có quyền năng hay không?”

“Có.”

“Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà có bị ràng buộc bởi của cải vật chất hay không?”

“Họ có.”

“Tâm họ có đầy thù hận hay không?”

“Có.”

“Tâm họ có đầy sân hận hay không?”

“Có.”

“Tâm họ có bị ô nhiễm hay không?”

“Có.”

“Họ có quyền năng hay không?”

“Không có.”

“Vậy có vẻ như các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà bị ràng buộc bởi của cải vật chất, còn Phạm Thiên thì không. Nhưng liệu các Bà-la-môn bị ràng buộc bởi của cải vật chất có thể đến với nhau và hội ngộ với Phạm Thiên, đấng không bị ràng buộc bởi của cải vật chất không?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha! Không thể nào các Bà-la-môn bị ràng buộc bởi của cải vật chất, sau khi thân hoại mạng chung, lại được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên, đấng không bị ràng buộc bởi của cải vật chất.

Và có vẻ như các Bà-la-môn có lòng thù hận, sân hận, ô nhiễm, và không có quyền năng, trong khi Phạm Thiên thì ngược lại trong tất cả những điều này. Nhưng liệu các Bà-la-môn đối nghịch với Phạm Thiên trong mọi điều có thể đến với nhau và hội ngộ với Ngài không?"

“Thưa không, ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha! Không thể nào những Bà-la-môn như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, lại được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên.

Nhưng ở đây, các Bà-la-môn thông thạo Tam Vệ-đà lại chìm đắm ngay tại chỗ họ ngồi, rồi lại trôi dạt xa nhau, trong khi tưởng tượng rằng họ đang vượt qua để đến vùng đất khô ráo hơn.653 Đó là lý do tại sao Tam Vệ-đà của các Bà-la-môn được gọi là ‘vùng đất mặn’, ‘vùng đất cằn cỗi’ và ‘thảm họa’."

Khi Ngài nói điều này, Vāseṭṭha thưa với Đức Phật: “Thưa ngài Cồ-đàm, con đã nghe nói rằng Ngài biết con đường đến cõi của Phạm Thiên.”

“Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Làng Manasākaṭa có ở gần đây không?”

“Thưa có.”

“Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Giả sử một người sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa. Và ngay khi họ rời khỏi thị trấn, có người hỏi họ đường đến Manasākaṭa. Liệu họ có chậm chạp hay do dự khi trả lời không?”

“Thưa không, ngài Cồ-đàm. Tại sao vậy? Bởi vì họ sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa. Họ rất quen thuộc với tất cả các con đường dẫn đến làng.”

“Tuy nhiên, có thể họ sẽ chậm chạp hoặc do dự khi trả lời. Nhưng bậc Như Lai (Realized One / bậc đã đạt đến chân lý như thật) không bao giờ chậm chạp hay do dự khi được hỏi về cõi Phạm Thiên hay pháp hành dẫn đến cõi Phạm Thiên. Ta hiểu rõ Phạm Thiên, cõi Phạm Thiên, và pháp hành dẫn đến cõi Phạm Thiên, thực hành theo đó một người sẽ được tái sinh vào cõi Phạm Thiên.”

Khi Ngài nói điều này, Vāseṭṭha thưa với Đức Phật: “Thưa ngài Cồ-đàm, con đã nghe nói rằng Ngài dạy con đường đến cõi của Phạm Thiên.654 Xin Ngài hãy dạy chúng con con đường đó và nâng đỡ thế hệ Bà-la-môn này.”

“Vậy thì, Vāseṭṭha, hãy lắng nghe và chú tâm suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa ngài,” Vāseṭṭha đáp.

31. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, tôn sư và đại tôn sư cùng nhau nói chuyện không? Phạm thiên có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, không có dục ái. − Có hận tâm hay không hận tâm?

− Tôn giả Gotama, không có hận tâm.

− Có sân tâm hay không sân tâm?

− Tôn giả Gotama, không có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

− Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gotama, có tự tại.

32. - Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, có dục ái.

− Có hận tâm hay không hận tâm?

− Tôn giả Gotama, có hận tâm.

− Có sân tâm hay không có sân tâm?

− Tôn giả Gotama, có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

− Tôn giả Gotama, có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gotama, không có tự tại.

33. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái, Phạm thiên không có tham ái. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái với Phạm thiên không có tham ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, không thể có được.

34. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

35. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm… các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm, Phạm thiên không có sân tâm… các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm… các Bà-la


môn tinh thông ba tập Vedà không có tự tại, Phạm thiên có tự tại.

Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không có tự tại với Phạm thiên có tự tại có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, không thể có được.

36. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

Này Vàsettha, ở đời các Bà-la-môn dầu có tinh thông ba tập Vedà, khi các vị này ngồi (với sự tự tín), thật sự đang chìm (trong bùn lầy), và khi đang chìm (trong bùn lầy) phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy đối với những Bà-la-môn tinh thông Vedà sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh.

37. Khi nghe vậy, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, tôi có nghe nói Sa-môn Gotama biết con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

− Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ở đây có người sinh trưởng ở Manasàkata, nhưng chưa bao giờ rời khỏi chỗ này. Có người hỏi con đường đưa đến Manasàkata. Này Vàsettha, đối với người ấy đã sinh trưởng ở Manasàkata, chắc không có gì nghi ngờ hay khó khăn thì phải?

− Tôn giả Gotama, thật không có gì nghi ngờ hay khó khăn. Vì cớ sao? Tôn giả Gotama, người ấy sinh trưởng ở Manasàkata đều biết rõ tất cả con đường đưa đến Manasàkata.

38. - Này Vàsettha, đối với người ấy đã sinh trưởng Manasàkata, còn có thể nghi ngờ và có khó khăn hỏi đến con đường đưa đến Manasàkata nhưng đối với Như Lai thì không có nghi ngờ hay khó khăn gì khi hỏi đến Phạm thiên giới hay con đường đưa đến Phạm thiên giới! Này Vàsettha, Ta biết đến Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.

39. Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Vàsettha bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Gotama, tôi đã nghe: “Sa-môn Gotama, giảng dạy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên”. Lành thay, nếu Sa-môn Gotama thuyết dạy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên! Mong Tôn giả Gotama tế độ chúng Bà-la-môn!

− Này Vàsettha, vậy hãy lóng nghe và khéo tác ý kỹ? Ta sẽ nói:

4. Dạy Con Đường Đến Cõi Phạm Thiên

Đức Phật nói thế này:

"Đó là khi một bậc Như Lai xuất hiện trên thế gian, một vị A-la-hán, một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác… Đó là cách một vị tỳ kheo thành tựu giới (ethics / các quy tắc đạo đức). … Thấy rằng các triền cái đã được từ bỏ trong mình, niềm hân hoan (joy / sự vui mừng, phấn khởi nhẹ nhàng ban đầu) khởi lên. Khi có niềm hân hoan, niềm vui (rapture / hỷ, sự vui sướng, phấn khởi mạnh mẽ hơn trong thiền định) khởi lên. Khi tâm tràn đầy niềm vui, thân trở nên khinh an (tranquil / sự yên ổn, nhẹ nhàng của thân và tâm). Khi thân khinh an, họ cảm thấy an ổn (bliss / lạc, cảm giác dễ chịu, hạnh phúc). Và khi an ổn, tâm trở nên định tĩnh (immersed / nhập định, tâm trở nên tập trung cao độ).

Vị ấy thiền quán, biến mãn tâm từ (heart full of love / lòng thương yêu chúng sinh một cách vô điều kiện) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cứ như thế, ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp mọi nơi, xung quanh tất cả, vị ấy biến mãn tâm từ đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không thù hận, không sân hận.655

Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho âm thanh của mình vang đến bốn phương. Tương tự như vậy, khi tâm giải thoát nhờ từ (heart’s release by love / sự giải thoát của tâm nhờ thực hành tâm từ) đã được phát triển như thế này, bất kỳ nghiệp hữu hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó.656 Đây là con đường đến cõi của Phạm Thiên.

Hơn nữa, một vị tỳ kheo thiền quán, biến mãn tâm bi (heart full of compassion / lòng thương xót chúng sinh đang đau khổ) …657

Vị ấy thiền quán, biến mãn tâm hỷ (heart full of rejoicing / niềm vui khi thấy chúng sinh hạnh phúc) …658

Vị ấy thiền quán, biến mãn tâm xả (heart full of equanimity / tâm bình thản, không thiên vị trước mọi hoàn cảnh) đến một phương, rồi đến phương thứ hai, rồi đến phương thứ ba, rồi đến phương thứ tư. Cứ như thế, ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp mọi nơi, xung quanh tất cả, vị ấy biến mãn tâm xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô lượng, không thù hận, không sân hận.659

Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho âm thanh của mình vang đến bốn phương. Tương tự như vậy, khi tâm giải thoát nhờ xả (heart’s release by equanimity / sự giải thoát của tâm nhờ thực hành tâm xả) đã được phát triển và tu tập như thế này, bất kỳ nghiệp hữu hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó. Đây cũng là một con đường đến cõi của Phạm Thiên.660

Con nghĩ sao, Vāseṭṭha? Khi một vị tỳ kheo thiền quán như thế này, vị ấy có bị ràng buộc bởi của cải vật chất hay không?"

“Vị ấy không bị ràng buộc.”

“Tâm vị ấy có đầy thù hận hay không?”

“Không có.”

“Tâm vị ấy có đầy sân hận hay không?”

“Không có.”

“Tâm vị ấy có bị ô nhiễm hay không?”

“Không bị.”

“Vị ấy có quyền năng hay không?”

“Có.”

“Vậy có vẻ như vị tỳ kheo đó không bị ràng buộc bởi của cải vật chất, và Phạm Thiên cũng vậy. Liệu một vị tỳ kheo không bị ràng buộc bởi của cải vật chất có thể đến với nhau và hội ngộ với Phạm Thiên, đấng không bị ràng buộc bởi của cải vật chất không?”

“Thưa có, ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha! Rất có thể một vị tỳ kheo không bị ràng buộc bởi của cải vật chất, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên, đấng không bị ràng buộc bởi của cải vật chất.

Và có vẻ như vị tỳ kheo đó không có lòng thù hận, sân hận, ô nhiễm, và có quyền năng, trong khi Phạm Thiên cũng giống như vậy trong tất cả những điều này. Liệu một vị tỳ kheo giống như Phạm Thiên trong mọi điều có thể đến với nhau và hội ngộ với Ngài không?"

“Thưa có, ngài Cồ-đàm.”

"Tốt lắm, Vāseṭṭha! Rất có thể vị tỳ kheo đó, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được tái sinh vào cõi của Phạm Thiên."661

Khi Ngài nói xong, Vāseṭṭha và Bhāradvāja thưa với Ngài: “Thật tuyệt vời, thưa ngài Cồ-đàm! Thật tuyệt vời! Như người dựng lại cái bị đổ, hay phơi bày cái bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, ngài Cồ-đàm đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Chúng con xin quy y (refuge / nương tựa) ngài Cồ-đàm, quy y giáo pháp, và quy y Tăng đoàn tỳ kheo.662 Từ hôm nay, xin ngài Cồ-đàm hãy ghi nhớ chúng con là những cư sĩ tại gia (lay followers / người Phật tử tu tại nhà) đã quy y trọn đời.”

40. Này Vàsettha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

41. Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sinh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tin ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

42. Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp, thanh tịnh. Mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm, tỉnh giác và biết tri túc.

43. Này Vàsettha, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc?

Ở đây, này Vàsettha, Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh… do lạc thọ, tâm được định tĩnh… chứng và trú thiền thứ nhất, … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-75).

76. Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

77. Này Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, câu hữu với từ. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

78. Lại nữa, này Vàsettha, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

79. Này Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, cùng khởi với xả. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

80. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Tỷ-kheo an trú như vậy là có dục ái hay không dục ái?

− Tôn giả Gotama, không có dục ái.

− Có hận tâm hay không có hận tâm?

− Tôn giả Gotama, không có hận tâm.

− Có sân tâm hay không có sân tâm?

− Tôn giả Gotama, không có sân tâm.

− Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm? − Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.

− Có tự tại hay không có tự tại?

− Tôn giả Gomata, có tự tại.

81. Này Vàsettha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có dục ái, Phạm thiên không có dục ái. Giữa Tỷ-kheo không có dục ái với Phạm thiên không có dục ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, có thể có được.

− Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, Tỷ-kheo sau khi tâm thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Thật có thể có sự kiện ấy.

Này Vàsettha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm… Tỷ-kheo không có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm. Tỷ-kheo có tự tại, Phạm Thiên có tự tại. Giữa Tỷ-kheo có tự tại với Phạm thiên có tự tại, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

− Tôn giả Gotama, có thể có được.

− Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, Tỷ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Sự kiện ấy thật có thể có.

82. Khi nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vàsettha và Bharadvàja bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày.

Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-