Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 14. Kinh Đại Bổn

Mahāpadānasutta

1. Về Các Kiếp Quá Khứ

Như vầy tôi nghe.1 Một thời Đức Phật trú tại gần Xá-vệ, trong Kỳ-đà Lâm, tu viện của ông Cấp Cô Độc, tại cốc gần cây kareri.2

Khi ấy, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, một số Tỳ kheo ngồi cùng nhau trong nhà hội gần cây kareri và cuộc pháp thoại này về chủ đề các kiếp quá khứ đã khởi lên giữa họ: "Trong một kiếp quá khứ đã như vậy; trong một kiếp quá khứ đã là như thế."3

Với thiên nhĩ (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh của các cõi khác, vượt ngoài khả năng người thường) thanh tịnh và siêu phàm, Đức Phật nghe được cuộc thảo luận đó giữa các Tỳ kheo. Ngài bèn đứng dậy từ chỗ ngồi và đi đến nhà hội, nơi Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc nói chuyện nào còn dang dở?”

Các Tỳ kheo kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra, và nói thêm: “Đây là cuộc nói chuyện còn dang dở khi Đức Phật đến.”

“Các ông có muốn nghe một bài pháp thoại về chủ đề các kiếp quá khứ không?”

“Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc! Bạch Bậc Thánh, nay chính là lúc! Xin Đức Phật hãy thuyết một bài pháp thoại về chủ đề các kiếp quá khứ. Chư Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm suy nghiệm, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Ngài,” họ đáp. Đức Phật nói như sau:

14. KINH ÐẠI BỔN

(Mahàpadàna Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vậy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở tại nước Sàvatthi (Xá-vệ) rừng Jeta (Kỳ-đà), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc), trong am thất cây Kareri (Hoa Lâm). Lúc bấy giờ, số đông các Tỷ-kheo đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp lại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại thuộc về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”.

2. Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh vượt quá loài người nghe được câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo. Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa Lâm viên đường. Khi đến xong, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì, các người đang ngồi bàn? Câu chuyện gì đã bị gián đoạn giữa các người?

Khi được nói vậy, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp tại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang được bàn đến giữa chúng con thời Thế Tôn đến.

3. - Này các Tỷ-kheo, các người có muốn nghe pháp thuộc thoại về tiền thân không?

− Bạch Thế Tôn, thật là đúng thời; bạch Thiện Thệ, thật là đúng thời để Thế Tôn giảng pháp thoại thuộc về tiền thân. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

− Vậy này các Tỷ-kheo, các người hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Dạ vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo này đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

"Cách đây chín mươi mốt kiếp (eon / một khoảng thời gian rất dài, một đại kiếp), Đức Phật Vipassī (Tỳ-bà-thi) đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác (perfected and fully awakened / bậc A-la-hán, giác ngộ hoàn toàn).4 Cách đây ba mươi mốt kiếp, Đức Phật Sikhī (Thi-khí) đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác.5 Cũng trong kiếp thứ ba mươi mốt ấy, Đức Phật Vessabhū (Tỳ-xá-phù) đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác.6 Trong hiện tại hiền kiếp này, các Đức Phật Kakusandha (Câu-lưu-tôn),7 Koṇāgamana (Câu-na-hàm-mâu-ni),8 và Kassapa (Ca-diếp) đã xuất hiện trên thế gian, những bậc arahán, chánh đẳng chánh giác.9 Và trong hiện tại hiền kiếp này, Ta đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác.10

Các Đức Phật Vipassī, Sikhī, và Vessabhū sanh ra làm người thuộc dòng dõi quý tộc Sát-đế-lỵ, trong các gia đình Sát-đế-lỵ. Các Đức Phật Kakusandha, Koṇāgamana, và Kassapa sanh ra làm người thuộc dòng dõi Bà-la-môn, trong các gia đình Bà-la-môn. Ta sanh ra làm người thuộc dòng dõi quý tộc Sát-đế-lỵ, trong một gia đình Sát-đế-lỵ.11

Koṇḍañña (Kiều-trần-như) là dòng họ của Đức Phật Vipassī,12 Sikhī, và Vessabhū. Kassapa (Ca-diếp) là dòng họ của Đức Phật Kakusandha, Koṇāgamana, và Kassapa. Gotama (Cồ-đàm) là dòng họ của Ta.13

4. - Này các Tỷ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xábà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konàgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời.

5. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn . Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn , sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ.

6. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câuly-nhã). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamara, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm).

Đối với Đức Phật Vipassī, tuổi thọ là 80.000 năm. Đối với Đức Phật Sikhī, tuổi thọ là 70.000 năm. Đối với Đức Phật Vessabhū, tuổi thọ là 60.000 năm. Đối với Đức Phật Kakusandha, tuổi thọ là 40.000 năm. Đối với Đức Phật Koṇāgamana, tuổi thọ là 30.000 năm. Đối với Đức Phật Kassapa, tuổi thọ là 20.000 năm. Đối với Ta vào thời điểm này, tuổi thọ ngắn ngủi, chóng qua. Người sống lâu cũng chỉ sống được một thế kỷ hoặc hơn một chút.

Đức Phật Vipassī giác ngộ dưới cội cây pāṭali (ba-la-la).14 Đức Phật Sikhī giác ngộ dưới cội cây xoài trắng (puṇḍarīka).15 Đức Phật Vessabhū giác ngộ dưới cội cây sa-la.16 Đức Phật Kakusandha giác ngộ dưới cội cây sirisa (hợp hoan).17 Đức Phật Koṇāgamana giác ngộ dưới cội cây sung chùm (udumbara).18 Đức Phật Kassapa giác ngộ dưới cội cây đa (nigrodha).19 Ta giác ngộ dưới cội cây bồ đề (assattha).20

Đức Phật Vipassī có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Khaṇḍa (Kiên-đà) và Tissa (Đề-xá). Đức Phật Sikhī có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Abhibhū (A-tỳ-bộ) và Sambhava (Thiện-bà-bà). Đức Phật Vessabhū có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Soṇa (Thiện-na) và Uttara (Ưu-đa-la). Đức Phật Kakusandha có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Vidhura (Tỳ-lâu-la) và Sañjīva (Tăng-kỳ-bà). Đức Phật Koṇāgamana có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Bhiyyosa (Bạt-già-sa) và Uttara (Ưu-đa-la). Đức Phật Kassapa có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Tissa (Đề-xá) và Bhāradvāja (Bạt-la-đọa). Ta có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên).

7. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bảy vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là sáu vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bốn vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là ba vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ của loài người là hai vạn năm. Này các Tỷ-kheo, nay tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút.

8. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pàtali (bà-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pundarika (phân-đà-ly). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây sirĩsa (thi-lợi-sa). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây udumbara (ô-tam-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây nigrodha (ni-câu-luật-đà). Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa-la).

9. Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Abhibhù (A-tỳ-phù) và Sambhava (Tam-bà-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vessabhu, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Sona (Phù-du) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Vidhùra (Tỳ-lâu) và Sanjìva (Tát-ni). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bhiyyosa (Thư-bàn-na) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Tissa (Ðề-xá) và Bhàradvàja (Bà-la-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Ta là Sãriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallàna (Mục-kiền-liên).

Đức Phật Vipassī có ba lần hội chúng đệ tử—một lần gồm 6.800.000 vị, một lần gồm 100.000 vị, và một lần gồm 80.000 vị—tất cả đều là những Tỳ kheo đã lậu tận (ended their defilements / đã đoạn trừ các phiền não).21

Đức Phật Sikhī có ba lần hội chúng đệ tử—một lần gồm 100.000 vị, một lần gồm 80.000 vị, và một lần gồm 70.000 vị—tất cả đều là những Tỳ kheo đã lậu tận.

Đức Phật Vessabhū có ba lần hội chúng đệ tử—một lần gồm 80.000 vị, một lần gồm 70.000 vị, và một lần gồm 60.000 vị—tất cả đều là những Tỳ kheo đã lậu tận.

Đức Phật Kakusandha có một lần hội chúng đệ tử—40.000 Tỳ kheo đã lậu tận.

Đức Phật Koṇāgamana có một lần hội chúng đệ tử—30.000 Tỳ kheo đã lậu tận.

Đức Phật Kassapa có một lần hội chúng đệ tử—20.000 Tỳ kheo đã lậu tận.

Ta đã có một lần hội chúng đệ tử—1.250 Tỳ kheo đã lậu tận.22

10. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám triệu Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội sáu vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội bốn vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội ba vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội hai vạn Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc A-la-hán. Này các Tỷ kheo, nay trong thời của Ta có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận.

Đức Phật Vipassī có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Asoka (A-du-ca). Đức Phật Sikhī có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Khemaṅkara (Khê-ma-ca-la). Đức Phật Vessabhū có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Upasanta (Ưu-ba-phiên-đà). Đức Phật Kakusandha có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Buddhija (Phật-đề-già). Đức Phật Koṇāgamana có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Sotthija (Sa-đề-già). Đức Phật Kassapa có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Sabbamitta (Tát-bà-mật-đa). Ta có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Ānanda (A-nan).

11. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Khemankara (Nhẫn Hành), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhũ, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Upasannaka (Tịch Diệt) vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Vuddhija (Thiện Giác), vị này là thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sotthija (An Hòa), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sabbamitta (Thiện Hữu), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, nay Ta có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là vị thị giả đệ nhất.

Cha của Đức Phật Vipassī là vua Bandhumā (Bàn-đầu-ma), mẹ ruột là hoàng hậu Bandhumatī (Bàn-đầu-ma-đề), và kinh thành của họ có tên là Bandhumatī.

Cha của Đức Phật Sikhī là vua Aruṇa (A-lâu-na),23 mẹ ruột là hoàng hậu Pabhāvatī (Ba-bà-bà-đề),24 và kinh thành của họ có tên là Aruṇavatī (A-lâu-na-bà-đề).25

Cha của Đức Phật Vessabhū là vua Suppatita (Tu-bát-đề-đa),26 mẹ ruột là hoàng hậu Vassavatī (Bà-sa-bà-đề), và kinh thành của họ có tên là Anoma (A-nậu-ma).

Cha của Đức Phật Kakusandha là Bà-la-môn Aggidatta (A-kỳ-đạt-đa),27 và mẹ ruột là mệnh phụ Bà-la-môn Visākhā (Tỳ-xá-khư).28 Vào thời đó, vua là Khema (Khê-ma), kinh thành của ngài tên là Khemavatī (Khê-ma-bà-đề).29

Cha của Đức Phật Koṇāgamana là Bà-la-môn Yaññadatta (Diên-nhã-đạt-đa),30 và mẹ ruột là mệnh phụ Bà-la-môn Uttarā (Ưu-đa-la).31 Vào thời đó, vua là Sobha (Sa-bà), kinh thành của ngài tên là Sobhavatī (Sa-bà-bà-đề).32

Cha của Đức Phật Kassapa là Bà-la-môn Brahmadatta (Phạm-ma-đạt-đa),33 và mẹ ruột là mệnh phụ Bà-la-môn Dhanavatī (Đà-na-bà-đề).34 Vào thời đó, vua là Kikī (Kỳ-kỳ),35 kinh thành của ngài tên là Varanasi (Ba-la-nại).

Trong đời này, cha của Ta là vua Suddhodana (Tịnh-phạn),36 mẹ ruột của Ta là Hoàng hậu Māyā (Ma-da),37 và kinh thành của chúng ta là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ)."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

12. Này các Tỷ-kheo, phụ vương của Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu); mẫu hậu tên là Bandhumati (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhumà tên là Bandhumatì. Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Aruna (Minh Tướng); mẫu hậu tên là Pabhãvatĩ (Quang Huy); kinh thành của vua Aruna tên là Pabhàvatì.

Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Suppatìta (Thiện Ðăng), mẫu hậu tên là Yasavati (Xứng Giới); Kinh thành của vua Suppatita tên là Anopama (Vô Dụ).

Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Aggidatta (Tự Ðắc); mẫu thân Bà-la-môn tên là Visàkhà (Thiện Chi). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Khema (An Hòa); kinh thành vua Khema tên là Khemavatì (An Hòa). Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Yannadatta (Ðạt Ðức) mẫu thân Bà-la-môn tên là Uttarà (Thiện Thắng; Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, vua trị vì tên là Sobha (Thanh Tịnh); kinh thành của vua Sobha tên là Sobhavatì (Thanh Tịnh).

Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Brahmadatta (Phạm Thi) mẫu thân Bà-la-môn tên là Dhanavatì (Tài Chủ). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Kikì (Hấp Tỳ); kinh thành vua Kikì là Baranasì (Ba-la-nại).

Này các Tỷ-kheo, nay phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Màyà (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Giảng xong Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

Ngay sau khi Đức Phật rời đi, các Tỳ kheo ấy đã thảo luận với nhau:

"Thật không thể tin được, thưa chư hiền, thật kỳ diệu! Như Lai (Realized One / bậc đã đạt đến chân lý như thật) có thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên) và uy lực đến thế! Vì Ngài có thể nhớ lại sự ra đời, tên tuổi, dòng họ, tuổi thọ, các vị đại đệ tử, và các hội chúng đệ tử của các Đức Phật trong quá khứ, những vị đã bát-niết-bàn (fully quenched / đã nhập Niết-bàn hoàn toàn, không còn tái sinh), đoạn tận hý luận (cut off proliferation / chấm dứt sự lan man của tâm ý, những suy diễn không cần thiết), đoạn tận lộ trình (cut off the track / chấm dứt con đường dẫn đến khổ đau), đoạn tận vòng luân hồi (finished off the cycle / chấm dứt vòng sinh tử), và vượt thoát mọi khổ đau. Ngài biết sự ra đời, tên tuổi, dòng họ, hạnh kiểm, phẩm chất, trí tuệ, thiền định, và sự giải thoát của các vị ấy.

Có phải vì Như Lai đã thấu triệt pháp giới (principle of the teachings / bản chất của các pháp, quy luật vận hành của vạn vật) mà Ngài có thể nhớ lại tất cả những điều này không?38 Hay là chư thiên đã nói cho Ngài biết?" Nhưng cuộc thảo luận này giữa các Tỳ kheo ấy vẫn còn dang dở.

13. Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu cuộc đàm thoại sau đây khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy:

− Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các liền giả, thật kỳ diệu thay, đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy? Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?”

Như vậy là cuộc đàm thoại đang khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy.

Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi độc cư và đi đến nhà hội gần cây kareri, nơi Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các ông vừa ngồi nói chuyện gì vậy? Cuộc nói chuyện nào còn dang dở?”

Các Tỳ kheo kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra, và nói thêm: “Đây là cuộc nói chuyện của chúng con còn dang dở khi Đức Phật đến.”

14. Bấy giờ Thế Tôn, vào buổi chiều tối, sau khi xuất định, liền đến Hoa Lâm viên đường, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xong, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay các Ngươi ngồi luận bàn vấn đề gì? Ðề tài gì đã được luận bàn giữa các Ngươi?

Khi được hỏi vậy, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu, cuộc đàm thoại sau đây đã khởi lên giữa chúng con: “Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các hiền giả thật kỳ diệu thay đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy?” Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?” Bạch Thế Tôn, như vậy là vấn đề bàn luận giữa chúng con, khi Thế Tôn đến.

"Chính vì Như Lai đã thấu triệt pháp giới mà Ngài có thể nhớ lại tất cả những điều này. Và chư thiên cũng đã nói cho Ta biết.

Các ông có muốn nghe thêm một bài pháp thoại về chủ đề các kiếp quá khứ không?"

“Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc! Bạch Bậc Thánh, nay chính là lúc! Xin Đức Phật hãy thuyết thêm một bài pháp thoại về chủ đề các kiếp quá khứ. Chư Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm suy nghiệm, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Ngài,” họ đáp. Đức Phật nói như sau:

15. - Này các Tỷ-kheo, như vậy là pháp giới ấy được khéo chứng đạt bởi Như Lai, và nhờ chúng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.

Này các Tỷ-kheo, vậy hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:

"Cách đây chín mươi mốt kiếp, Đức Phật Vipassī đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác. Ngài sanh ra làm người thuộc dòng dõi quý tộc Sát-đế-lỵ, trong một gia đình Sát-đế-lỵ. Dòng họ của Ngài là Koṇḍañña. Ngài sống 80.000 năm. Ngài giác ngộ dưới cội cây pāṭali. Ngài có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Khaṇḍa và Tissa. Ngài có ba lần hội chúng đệ tử—một lần gồm 6.800.000 vị, một lần gồm 100.000 vị, và một lần gồm 80.000 vị—tất cả đều là những Tỳ kheo đã lậu tận. Ngài có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Asoka. Cha của Ngài là vua Bandhumā, mẹ ruột là hoàng hậu Bandhumatī, và kinh thành của họ có tên là Bandhumatī.

16. - Này các Tỷ-kheo, cách đây chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-ly, sanh trong giai cấp Sát-đế-ly. Này các Tỷ kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ đến tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Patali (Ba-ba-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Phụ Vương Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu), mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề), kinh thành của Bandhumà tên là Bandhumatì.

2. Điều Thường Pháp Đối Với Một Vị Quyết Chí Giác Ngộ

Khi Bồ-tát (being intent on awakening / chúng sanh đang trên đường tu tập để thành Phật) Vipassī, từ cõi trời Đâu-suất (host of joyful gods / Tusita heaven, một trong các cõi trời dục giới) mệnh chung, ngài nhập thai mẹ, chánh niệm (mindful / sự chú tâm đúng đắn, không xao lãng) tỉnh giác (aware / sự biết rõ, nhận thức rõ ràng).39 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.40

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ cõi trời Đâu-suất mệnh chung, ngài nhập thai mẹ. Và rồi—trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt trên cả oai lực của chư thiên. Ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới, không giới hạn—tối tăm mờ mịt đến nỗi ngay cả ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù mạnh mẽ và quyền năng đến đâu, cũng không thể chiếu tới—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt trên cả oai lực của chư thiên.41 Và các chúng sanh được tái sanh ở đó nhận ra nhau nhờ ánh sáng ấy: 'Ồ, có vẻ như các chúng sanh khác đã được tái sanh ở đây!'42tam thiên đại thiên thế giới (ten-thousandfold galaxy / một hệ thống thế giới bao gồm một ngàn triệu thế giới nhỏ) này rung chuyển, chấn động, lay động. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trên thế gian, vượt trên cả oai lực của chư thiên. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, bốn vị thiên tử đến trấn giữ bốn phương, để không một người, phi nhân hay bất cứ ai có thể làm hại Bồ-tát hoặc mẹ ngài.43 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

17. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi Bồ-tát Vipassì từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu ấy, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ -tát nhập mẫu thai, bốn vị Thiên tử đứng canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người, được hãm hại vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy”.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, bà tự nhiên giữ giới. Bà từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và dùng các chất say như rượu men, rượu nấu.44 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, bà không còn cảm thấy dục ý đối với nam giới, và bà không thể bị người nam nào có tâm ô uế xâm phạm. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, bà được hưởng ngũ dục (five kinds of sensual stimulation / năm loại khoái lạc giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc) và tự vui hưởng, được cung phụng đầy đủ.45 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

18. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu men, rượu nấu. Pháp nhĩ là như vậy.

19. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và không vị phạm tiết hạnh với bất kỳ người đàn ông nào dầu người này có tâm ái nhiễm đối với bà. Pháp nhĩ là gì vậy.

20. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát có được năm món dục lạc đầy đủ, tận hưởng, trọn hưởng năm món dục lạc ấy. Pháp nhĩ là như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, không phiền não nào làm khổ bà. Bà hạnh phúc và thân không mệt mỏi. Và bà thấy Bồ-tát trong bụng mình, đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót giác quan nào. Ví như có một viên ngọc lưu ly tự nhiên đẹp đẽ, tám cạnh, được chế tác khéo léo, trong suốt, sáng rõ, không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng. Và một người có mắt sáng cầm nó trong tay và xem xét: ‘Viên ngọc lưu ly này tự nhiên đẹp đẽ, tám cạnh, được chế tác khéo léo, trong suốt, sáng rõ, không vẩn đục, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp. Và nó được xâu bằng sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu vàng.’

Cũng vậy, khi Bồ-tát nhập vào bụng mẹ, không phiền não nào làm khổ bà. Bà hạnh phúc và thân không mệt mỏi. Và bà thấy Bồ-tát trong bụng mình, đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót giác quan nào. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

21. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.

Này các Tỷ-kheo, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: “Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lạt”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Pháp nhĩ là như vậy.

Đó là thường pháp rằng, bảy ngày sau khi Bồ-tát đản sanh, mẹ ngài mệnh chung và được tái sanh vào cõi trời Đâu-suất.46 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, trong khi các phụ nữ khác mang thai chín hoặc mười tháng rồi mới sanh, mẹ của Bồ-tát thì không như vậy. Bà sanh con sau đúng mười tháng.47 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, trong khi các phụ nữ khác khi sanh thì ngồi hoặc nằm, mẹ của Bồ-tát thì không như vậy. Bà chỉ sanh khi đang đứng.48 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, chư thiên đón nhận ngài trước, sau đó mới đến loài người. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, trước khi chạm đất, bốn vị thiên tử đón nhận ngài và đặt trước mặt mẹ ngài, nói rằng: ‘Xin Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Một bậc vĩ nhân đã đản sanh cho Hoàng hậu.’ Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, ngài xuất hiện đã sạch sẽ, không dính nước ối, nhớt, máu, hay bất kỳ loại ô uế nào khác, thanh tịnh và trong sạch. Ví như một viên châu báu được đặt trên tấm vải lụa xứ Kāsi. Viên ngọc sẽ không làm bẩn tấm vải, cũng như tấm vải sẽ không làm bẩn viên ngọc.49 Tại sao vậy? Vì cả hai đều sạch sẽ.

Cũng vậy, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, ngài xuất hiện đã sạch sẽ, không dính nước ối, nhớt, máu, hay bất kỳ loại ô uế nào khác, thanh tịnh và trong sạch. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

22. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Sau khi sanh vị Bồ-tát bảy ngày, mẹ vị Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cảnh trời Ðâu suất. Pháp nhĩ là như vậy.

23. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát trong bụng mười tháng trời mới sanh. Pháp nhĩ là như vậy.

24. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác, hoặc ngồi, hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát đứng mà sanh vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy.

25. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người. Pháp nhĩ là như vậy.

26. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Pháp nhĩ là như vậy.

27. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh thịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.

Này các Tỷ-kheo, như viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Hòn ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nại cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ sự vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, hai dòng nước từ trên trời hiện ra, một dòng mát, một dòng ấm, để tắm cho Bồ-tát và mẹ ngài. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

Đó là thường pháp rằng, vừa sanh ra, Bồ-tát đứng vững bằng hai chân trên mặt đất. Hướng về phương Bắc, ngài đi bảy bước, có lọng trắng che trên đầu, nhìn khắp bốn phương, và thốt lên lời tuyên bố hùng tráng: 'Ta là bậc tối thượng trên đời! Ta là bậc tối tôn trên đời! Ta là bậc đứng đầu trên đời! Đây là lần tái sanh cuối cùng của ta; nay sẽ không còn bhavā (future lives / các kiếp sống tương lai, sự tái sinh) nào nữa.'50 Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

28. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ. Pháp nhĩ là như vậy.

29. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Pháp nhĩ là như vậy.

Đó là thường pháp rằng, khi Bồ-tát từ bụng mẹ xuất hiện, thì—trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt trên cả oai lực của chư thiên. Ngay cả trong khoảng không gian giữa các thế giới, không giới hạn—tối tăm mờ mịt đến nỗi ngay cả ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù mạnh mẽ và quyền năng đến đâu, cũng không thể chiếu tới—một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt trên cả oai lực của chư thiên. Và các chúng sanh được tái sanh ở đó nhận ra nhau nhờ ánh sáng ấy: ‘Ồ, có vẻ như các chúng sanh khác đã được tái sanh ở đây!’ Và tam thiên đại thiên thế giới này rung chuyển, chấn động, lay động. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trên thế gian, vượt trên cả oai lực của chư thiên. Đó là thường pháp trong trường hợp như vậy.

30. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.

3. Ba Mươi Hai Tướng của Bậc Đại Nhân

Khi Thái tử Vipassī đản sanh, họ báo tin cho vua Bandhumā,51 ‘Tâu Đại vương, hoàng tử đã đản sanh! Xin Bệ hạ hãy xem xét!’ Sau khi vua xem xét thái tử, ngài cho triệu các thầy tướng số Bà-la-môn đến và nói với họ,52 ‘Thưa quý vị, xin hãy xem tướng cho thái tử.’ Sau khi xem xét, họ nói với vua: 'Xin Đại vương hãy hoan hỷ! Một bậc vĩ nhân đã đản sanh cho Đại vương. Đại vương thật may mắn, vô cùng may mắn, khi có một người con như vậy sanh ra trong hoàng tộc này! Vì thái tử có ba mươi hai tướng của bậc đại nhân (marks of a great man / các đặc điểm phi thường của một người vĩ đại). Một bậc đại nhân sở hữu những tướng này chỉ có hai con đường định sẵn, không có con đường nào khác.53 Nếu ở lại đời sống thế tục, ngài sẽ trở thành một vị vua, một chuyển luân thánh vương (wheel-turning monarch / vị vua cai trị bằng chánh pháp, bánh xe pháp của ngài lăn đến đâu thì nơi đó được an bình), một vị vua chánh trực, cai trị bằng chánh pháp. Quyền lực của ngài bao trùm bốn phương, ngài đạt được sự ổn định trong nước, và ngài sở hữu thất bảo (seven treasures / bảy báu vật của một chuyển luân thánh vương). Ngài có bảy báu vật sau đây:54 bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ nhân báu, cư sĩ báu, và tướng quân báu là báu vật thứ bảy. Ngài có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh, anh hùng, chinh phục quân đội của kẻ thù. Sau khi chinh phục vùng đất bao quanh bởi biển cả này, ngài cai trị bằng chánh pháp, không dùng roi gậy hay gươm đao. Nhưng nếu ngài từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà, ngài sẽ trở thành một bậc arahán, một vị Phật toàn giác, vén lên bức màn vô minh che lấp thế gian.

Và những tướng mà ngài sở hữu là gì?55

Ngài có bàn chân bằng phẳng.56

Dưới lòng bàn chân ngài có hình bánh xe ngàn căm, với vành và trục, đầy đủ mọi chi tiết.57

Ngài có gót chân dài.58

Ngài có ngón tay dài.59

Tay chân ngài mềm mại.60

Tay chân ngài có màng lưới giữa các ngón.61

Mu bàn chân ngài cao.62

Bắp chân ngài như của linh dương.63

Khi đứng thẳng, không cúi xuống, hai lòng bàn tay ngài chạm đến đầu gối.64

Âm mã tàng (bộ phận sinh dục được che kín trong bao).65

Ngài có thân sắc vàng; da ngài sáng như vàng ròng.66

Ngài có da mịn màng, đến nỗi bụi bẩn không bám vào thân.67

Mỗi lỗ chân lông của ngài chỉ mọc một sợi lông.68

Lông trên thân ngài dựng đứng; màu xanh đen và xoắn theo chiều kim đồng hồ.69

Thân hình ngài cao thẳng.70

Ngài có bảy chỗ đầy đặn (hai tay, hai chân, hai vai, và thân mình).71

Ngực ngài như sư tử.72

Khoảng giữa hai vai ngài đầy đặn.73

Thân ngài cân đối như cây đa: sải tay bằng chiều cao thân.74

Thân mình ngài tròn trịa.

Ngài có nhiều nụ vị giác (khả năng nếm vị thượng vị).75

Hàm ngài như sư tử.

Ngài có bốn mươi răng.

Răng ngài đều đặn.76

Răng ngài không có kẽ hở.

Răng ngài trắng tinh.

Ngài có lưỡi rộng dài.77

Ngài có tiếng nói như Phạm thiên, như tiếng chim ca-lăng-tần-già.

Mắt ngài màu xanh biếc.78

Lông mi ngài như của bò cái.79

Giữa hai lông mày ngài có một nhúm lông (bạch hào tướng), mềm mại và trắng như bông gòn.

Đỉnh đầu ngài có nhục kế (đỉnh đầu nổi cao như búi tóc hoặc vương miện).80

31. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sinh ra, vua Bandhumà được báo tin: “Ðại vương đã được sinh một hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi thấy hoàng tử xong, vua Bandhumà liền cho mời các vị Bàla-môn đoán tướng và nói: “Này các Hiền giả, hãy xem tướng cho Hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi xem tướng Hoàng tử Vipassì xong, các vị Bà-la-môn đoán tướng tâu với vua Bandhumà: “Ðại vương hãy hân hoan; Ðại vương đã sinh một bậc vĩ nhân! May mắn thay cho Ðại vương, đại hạnh thay cho Ðại vương đã được một Hoàng tử như vậy sanh trong gia đình. Tâu Ðại vương, Hoàng tử này có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Ai có đủ ba mươi hai tướng tốt này sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tương quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.

32. “Ðại vương, ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân là gì mà Hoàng tử nếu đầy đủ những tướng tốt này sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc lộ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.

“Ðại vương, Hoàng tử này có lòng bàn chân bằng phẳng, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.

“Ðại vương, dưới hai bàn chân của Hoàng tử này, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ, tướng này được xem là tướng của bậc Ðại nhân.

“Ðại vương, Hoàng tử này có gót chân thon dài… (như trước)

“Ðại vương, Hoàng tử này có ngón tay, ngón chân dài…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân mềm mại…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân có màn da lưới…

“Ðại vương, Hoàng tử này có mắt cá tròn như con sò…

“Ðại vương, Hoàng tử này có ống chân như con dê rừng…

“Ðại vương, Hoàng tử này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể rờ từ đầu gối với hai bàn tay…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng mã âm tàng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có màu da như đồng, màu sắc như vàng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính vào…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt…

“Ðại vương, Hoàng tử này có thân hình cao thẳng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bảy chỗ tròn đầy…

“Ðại vương, Hoàng tử này có nửa thân trước như con sư tử… “Ðại vương, Hoàng tử này không có lõm khuyết giữa hai vai…

“Ðại vương, Hoàng tử này có thân thể cân đối như cây bàng (nigrodha: ni-câu-luật). Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bán thân trên vuông tròn…

“Ðại vương, Hoàng tử này có vị giác hết sức sắc bén…

“Ðại vương, Hoàng tử này co quai hàm như con sư tử…

“Ðại vương, Hoàng tử này có bốn mươi răng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng đều đặn…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng không khuyết hở…

“Ðại vương, Hoàng tử này có răng cửa (thái xỉ) trơn láng…

“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng lưỡi rộng dài…

“Ðại vương, Hoàng tử này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng-tần-già (Karavika)…

“Ðại vương, Hoàng tử này có hai mắt màu xanh đậm…

“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mi con bò cái…

“Ðại vương, Hoàng tử này giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ…

“Ðại vương, Hoàng tử này có nhục kế trên đầu, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân…

Đây là ba mươi hai tướng của bậc đại nhân mà thái tử có. Một bậc đại nhân sở hữu những tướng này chỉ có hai con đường định sẵn, không có con đường nào khác. Nếu ở lại đời sống thế tục, ngài sẽ trở thành một vị vua, một chuyển luân thánh vương. Nhưng nếu ngài từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà, ngài sẽ trở thành một bậc arahán, một vị Phật toàn giác, vén lên bức màn vô minh che lấp thế gian.’

33. “Ðại vương, Hoàng tử có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân, với ba mươi hai tướng tốt này, Hoàng tử sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, Hoàng tử sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành sở hữu của Ngài, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu Hoàng tử từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, Hoàng tử sẽ thành bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.

4. Vì Sao Ngài Được Gọi Là Vipassī

Khi ấy, vua Bandhumā cho các thầy tướng số Bà-la-môn mặc y phục mới và thỏa mãn mọi nhu cầu của họ.81 Rồi vua bổ nhiệm các bảo mẫu cho Thái tử Vipassī.82 Có người cho bú, có người tắm rửa, có người bồng ẵm, và có người địu trên hông. Từ khi đản sanh, một chiếc lọng trắng được che trên đầu ngài cả ngày lẫn đêm, với ý nghĩ: ‘Đừng để lạnh, nóng, cỏ, bụi, hay ẩm ướt làm phiền ngài.’ Ngài được nhiều người yêu mến, quý trọng, như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng. Ngài luôn được chuyền tay bồng ẵm từ người này sang người khác.

Từ khi đản sanh, giọng nói của ngài quyến rũ, duyên dáng, ngọt ngào, và đáng yêu. Giọng nói ấy ngọt ngào như tiếng hót của chim ca-lăng-tần-già ở Hy-mã-lạp-sơn.

Từ khi đản sanh, Thái tử Vipassī có thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy các cõi khác, vượt ngoài khả năng người thường) do nghiệp quá khứ (past deeds / hành động đã làm trong các kiếp trước) mà có, nhờ đó ngài có thể nhìn thấy một do-tuần (league / đơn vị đo lường cổ, khoảng 10-15km) xung quanh, cả ngày lẫn đêm.83

Và ngài quan sát không chớp mắt, như chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Và vì người ta nói rằng ngài quan sát không chớp mắt, nên ngài được gọi là ‘Vipassī’ (nghĩa là “thấy rõ”).84

Khi ấy, trong lúc vua Bandhumā ngồi xử án, ngài thường để Thái tử Vipassī ngồi trong lòng và giải thích vụ án cho thái tử. Và khi ngồi trong lòng cha, Thái tử Vipassī suy xét thấu đáo vụ án và đưa ra kết luận theo một trình tự hợp lý. Vì vậy, đây càng là lý do để ngài được gọi là ‘Vipassī’.85

Rồi vua Bandhumā cho xây ba tòa lâu đài cho thái tử—một cho mùa đông, một cho mùa hè, và một cho mùa mưa, và cung cấp cho ngài đầy đủ ngũ dục. Thái tử Vipassī ở trong một tòa lâu đài mà không xuống lầu trong suốt bốn tháng mùa mưa, nơi ngài được các nữ nhạc công mua vui.

Hết phần tụng đọc thứ nhất.

Này các Tỷ-kheo, Vua Bandhumà ra lệnh cúng dường các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.

34. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà ra lệnh cúng dường vị các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.

34. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho nuôi những người vú cho hoàng tử Vipassì. Người cho bú, người tắm, người lo bồng ẵm, người mang trên nách. Này các Tỷ-kheo, một lọng trắng ngày đêm được che trên hoàng tử Vipassì, và lệnh được truyền ra: “Không được để lạnh hay nóng, cỏ, bụi, hay sương làm phiền hoàng tử”. Hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm. Này các Tỷ-kheo, cũng như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng được mọi người yêu thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm, gần như được ẵm từ nách này qua nách người khác.

35. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì được sinh ra, hoàng tử phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, giống như con chim ca-lăng-tân-già sinh trong núi Hy-mãlạp sơn, giọng chim rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Hoàng Tử Vipassì phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn.

36. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Thiên nhãn hiện ra với Ngài, do nghiệp báo sanh, và nhờ Thiên nhãn ấy, Ngài có thể nhìn khắp chung quanh đến một do tuần, ban ngày cũng như ban đêm.

37. Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Ngài nhìn thẳng sự vật với cặp mắt không nhấp nháy, như hàng Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì hoàng tử Vipassì nhìn không nhấp nháy, nên này các Tỷ-kheo, hoàng tử được gọi tên là “Vipassì” - “Vị đã nhìn thấy”. Này các Tỷ-kheo, khi vua Bandhumà ngồi xử kiện, vua cho đặt hoàng tử Vipassì ngồi bên nách mình để xử kiện. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì ngồi bên nách vua cha như vậy và chú tâm quan sát phương thức xử kiện đến nỗi tự mình cũng có thể phán đoán xử kiện. Này các Tỷ-kheo, do hoàng tử Vipassì “có thể quan sát và xử kiện đúng luật pháp” và danh từ “Vipassì” càng được dùng để đặt tên cho Ngài.

38. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho xây dựng ba tòa lâu đài cho hoàng tử Vipassì, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa lạnh, và năm món dục lạc đều được chuẩn bị đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống bốn tháng mưa trong lâu đài dành cho mùa mưa, được hầu hạ mua vui với các nữ nhạc sĩ, và không một lần nào, Ngài bước xuống khỏi lầu.

Tụng Phẩm II

5. Người Già

Rồi, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, Thái tử Vipassī nói với người đánh xe của mình,86 ‘Này người đánh xe thân mến, hãy thắng những cỗ xe tốt nhất. Chúng ta sẽ đến vườn ngự uyển để ngắm cảnh.’

‘Thưa vâng, thưa ngài,’ người đánh xe đáp. Ông ta thắng xe và báo cho thái tử: ‘Thưa ngài, những cỗ xe tốt nhất đã được thắng. Xin ngài đi tùy ý.’ Rồi Thái tử Vipassī lên một cỗ xe tốt và cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành đến vườn ngự uyển.

Trên đường đi, ngài thấy một người già, lưng còng gập, xiêu vẹo, chống gậy, run rẩy khi đi, bệnh tật, tuổi xuân đã qua. Ngài nói với người đánh xe: ‘Này người đánh xe thân mến, người kia đã làm gì? Sao tóc và thân thể của ông ta không giống những người khác.’

‘Thưa Điện hạ, đó gọi là một người già.’

‘Nhưng tại sao ông ta lại được gọi là người già?’

‘Ông ta được gọi là người già vì bây giờ ông ta không còn sống được bao lâu nữa.’

‘Nhưng này người đánh xe thân mến, ta cũng phải già sao? Ta không thoát khỏi tuổi già sao?’

‘Mọi người đều phải già, thưa Điện hạ, kể cả ngài. Không ai thoát khỏi tuổi già.’

'Vậy thì, này người đánh xe thân mến, hôm nay đi vườn ngự uyển thế là đủ rồi. Chúng ta hãy trở về nội cung.'87

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp và làm theo.

Trở về nội cung, thái tử ưu tư, khốn khổ và buồn bã:88 ‘Thật đáng nguyền rủa thay cái gọi là tái sanh này, vì tuổi già sẽ đến với bất cứ ai được sanh ra.’

Khi ấy, vua Bandhumā triệu người đánh xe đến và nói: ‘Này người đánh xe thân mến, thái tử có vui thích ở vườn ngự uyển không? Thái tử có hạnh phúc ở đó không?’

‘Không, thưa Điện hạ, thái tử không vui thích ở vườn ngự uyển.’

‘Nhưng thái tử đã thấy gì trên đường đến vườn ngự uyển?’ Và người đánh xe kể lại cho vua về việc nhìn thấy người già và phản ứng của thái tử.

1. - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh” - “Thưa vâng, Hoàng Tử”. Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

2. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, khổ não, không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao thân người đó không giống các người khác?” “Tâu Hoàng tử, người đó là một người được gọi là già vậy”. - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người già?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. - “Này khanh, vậy rồi Ta có bị già không, một người chưa qua tuổi già?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già!” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy là vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy!”.

3. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? “Này khanh, Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”. - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ, tại vườn ngự uyển” - “Này khanh, khi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu đại vương, Hoàng tử trong khi đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy vừa đi vừa run rẩy, khổ não không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao tóc người đó không giống các người khác? Sao thân người đó không giống các người khác?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là vậy” - “Này khanh, sao người ấy được gọi là người già? “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già, vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. - “Này khanh, vậy rồi Ta có phải bị già không, một người chưa qua tuổi già?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng Tử!”. Tâu Ðại vương, con vâng lời Hoàng tử Vipassì, cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử trở về cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy”.

6. Người Bệnh

Khi ấy, vua Bandhumā nghĩ: 'Thái tử Vipassī không được từ bỏ ngai vàng. Ngài không được từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà. Và lời của các thầy tướng số Bà-la-môn không được thành sự thật.'89 Vì mục đích này, vua cung cấp cho thái tử nhiều hơn nữa ngũ dục, để thái tử vui hưởng.

Rồi, sau nhiều ngàn năm trôi qua, Thái tử Vipassī lại cho người đánh xe chở mình đến vườn ngự uyển.90

Trên đường đi, ngài thấy một người bệnh tật, đau đớn, ốm nặng, ngã quỵ trong phân và nước tiểu của chính mình, được người này đỡ dậy, người kia đặt xuống. Ngài nói với người đánh xe: ‘Này người đánh xe thân mến, người kia đã làm gì? Sao mắt và giọng nói của ông ta không giống những người khác.’

‘Thưa Điện hạ, đó gọi là một người bệnh.’

‘Nhưng tại sao ông ta lại được gọi là người bệnh?’

‘Ông ta được gọi là người bệnh; hy vọng ông ta sẽ khỏi bệnh.’

‘Nhưng này người đánh xe thân mến, ta cũng phải bệnh sao? Ta không thoát khỏi bệnh tật sao?’

‘Mọi người đều phải bệnh, thưa Điện hạ, kể cả ngài. Không ai thoát khỏi bệnh tật.’

‘Vậy thì, này người đánh xe thân mến, hôm nay đi vườn ngự uyển thế là đủ rồi. Chúng ta hãy trở về nội cung.’

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp và làm theo.

Trở về nội cung, thái tử ưu tư, khốn khổ và buồn bã: ‘Thật đáng nguyền rủa thay cái gọi là tái sanh này, vì tuổi già và bệnh tật sẽ đến với bất cứ ai được sanh ra.’

Khi ấy, vua Bandhumā triệu người đánh xe đến và nói: ‘Này người đánh xe thân mến, thái tử có vui thích ở vườn ngự uyển không? Thái tử có hạnh phúc ở đó không?’

‘Không, thưa Điện hạ, thái tử không vui thích ở vườn ngự uyển.’

‘Nhưng thái tử đã thấy gì trên đường đến vườn ngự uyển?’ Và người đánh xe kể lại cho vua về việc nhìn thấy người bệnh và phản ứng của thái tử.

4. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì. Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.

Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì khỏi phải xuất gia, để cho lời các vị Bàla-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng đầy đủ sung túc năm món dục lạc.

5. Này các Tỷ-kheo hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe… (tương tự như đoạn kinh II.1).

6. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe. “Này khanh, người này đã làm gì, mà mắt của nó không giống mắt của những người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?” “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là một người bệnh vậy”. - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là một người bệnh vì người ấy chưa thoát khỏi căn bệnh của mình” - “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, một người chưa bị bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”

7. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không tại vườn ngự uyển?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển” - “Này khanh, khi đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đến vườn ngự uyển thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó đã làm gì mà mắt của nó không giống mắt của người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?” - “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là môt người bệnh” Vậy: - “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người bệnh, vì người ấy chưa khỏi căn bệnh của mình!” - “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, môt người chưa bị bệnh?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi! Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”.

7. Người Chết

Khi ấy, vua Bandhumā nghĩ: ‘Thái tử Vipassī không được từ bỏ ngai vàng. Ngài không được từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà. Và lời của các thầy tướng số Bà-la-môn không được thành sự thật.’ Vì mục đích này, vua cung cấp cho thái tử nhiều hơn nữa ngũ dục, để thái tử vui hưởng.

Rồi, sau nhiều ngàn năm trôi qua, Thái tử Vipassī lại cho người đánh xe chở mình đến vườn ngự uyển.

Trên đường đi, ngài thấy một đám đông lớn đang kết một chiếc kiệu tang bằng các loại y phục nhiều màu sắc.91 Ngài nói với người đánh xe: ‘Này người đánh xe thân mến, tại sao đám đông đó lại kết kiệu tang?’

‘Thưa Điện hạ, đó là cho một người đã qua đời.’

‘Vậy thì, hãy đánh xe đến gần người đã qua đời.’

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp, và làm theo.

Khi thái tử thấy thi hài của người đã qua đời, ngài nói với người đánh xe: ‘Nhưng tại sao ông ta lại được gọi là người đã qua đời?’

‘Ông ta được gọi là người đã qua đời vì bây giờ cha mẹ, bà con quyến thuộc của ông ta sẽ không còn thấy ông ta nữa, và ông ta cũng sẽ không bao giờ thấy họ nữa.’

‘Nhưng này người đánh xe thân mến, ta cũng phải chết sao? Ta không thoát khỏi cái chết sao? Vua, hoàng hậu và các bà con quyến thuộc khác của ta sẽ không còn thấy ta nữa sao? Và ta sẽ không bao giờ thấy họ nữa sao?’

‘Mọi người đều phải chết, thưa Điện hạ, kể cả ngài. Không ai thoát khỏi cái chết. Vua, hoàng hậu và các bà con quyến thuộc khác của ngài sẽ không còn thấy ngài nữa, và ngài cũng sẽ không bao giờ thấy họ nữa.’

‘Vậy thì, này người đánh xe thân mến, hôm nay đi vườn ngự uyển thế là đủ rồi. Chúng ta hãy trở về nội cung.’

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp và làm theo.

Trở về nội cung, thái tử ưu tư, khốn khổ và buồn bã: ‘Thật đáng nguyền rủa thay cái gọi là tái sanh này, vì tuổi già, bệnh tật, và cái chết sẽ đến với bất cứ ai được sanh ra.’

Khi ấy, vua Bandhumā triệu người đánh xe đến và nói: ‘Này người đánh xe thân mến, thái tử có vui thích ở vườn ngự uyển không? Thái tử có hạnh phúc ở đó không?’

‘Không, thưa Điện hạ, thái tử không vui thích ở vườn ngự uyển.’

‘Nhưng thái tử đã thấy gì trên đường đến vườn ngự uyển?’ Và người đánh xe kể lại cho vua về việc nhìn thấy người chết và phản ứng của thái tử.

− Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho Hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia! Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhuma, lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.

9. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

10. - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau, và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?” - “Tâu Hoàng tử, vì có một người vừa mới mệnh chung” - “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung!” - “Thưa vâng, tâu Hoàng tử.”

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe đến người vừa mới mệnh chung. Này các Tỷ-kheo, khi thấy thây người chết, hoàng tử Vipassì hỏi: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết vì nay bà mẹ, ông cha, các người bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa; và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác!” - “Này khanh, vậy Ta chưa chết, rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những bà con ruột thịt chăng?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi sẽ cũng bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Hoàng Tử, và Hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương. Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác”. “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.

11. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”- “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển”. - “Này khanh đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?” - “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?” - “Tâu Hoàng tử, vì có một người mới mệnh chung”. - “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe lại gần người vừa mới mệnh chung”. - “Thưa vâng, tâu Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung. Khi thấy thây chết, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết, vì nay bà mẹ, ông cha hay những bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa! Và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác”. - “Này khanh, vậy Ta chưa chết rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng? Và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác chăng?” - “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi cũng sẽ bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy hoàng tử, và hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác” - “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời hoàng tử Vipassì cho đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.

8. Người Xuất Gia

Khi ấy, vua Bandhumā nghĩ: ‘Thái tử Vipassī không được từ bỏ ngai vàng. Ngài không được từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà. Và lời của các thầy tướng số Bà-la-môn không được thành sự thật.’ Vì mục đích này, vua cung cấp cho thái tử nhiều hơn nữa ngũ dục, để thái tử vui hưởng.

Rồi, sau nhiều ngàn năm trôi qua, Thái tử Vipassī lại cho người đánh xe chở mình đến vườn ngự uyển.

Trên đường đi, ngài thấy một người, một vị xuất gia (renunciate / người từ bỏ đời sống thế tục để tu hành) đầu cạo trọc, mặc y vàng nghệ.92 Ngài nói với người đánh xe: ‘Này người đánh xe thân mến, người kia đã làm gì? Sao đầu và y phục của ông ta không giống những người khác.’

‘Thưa Điện hạ, đó gọi là một người xuất gia.’

‘Nhưng tại sao ông ta lại được gọi là người xuất gia?’

'Ông ta được gọi là người xuất gia vì ông ta ca ngợi hành vi có nguyên tắc và công bằng, hành động thiện xảo, việc làm tốt, không làm hại, và lòng từ ái đối với chúng sanh.'93

‘Vậy thì ta ca ngợi người được gọi là người xuất gia, người ca ngợi hành vi có nguyên tắc và công bằng, hành động thiện xảo, việc làm tốt, không làm hại, và lòng từ ái đối với chúng sanh! Vậy thì, hãy đánh xe đến gần người xuất gia đó.’

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp, và làm theo.

Khi ấy, Thái tử Vipassī nói với người xuất gia đó: ‘Này thiện hữu, ông đã làm gì? Sao đầu và y phục của ông không giống những người khác.’

‘Thưa Điện hạ, tôi là người được gọi là người xuất gia.’

‘Nhưng tại sao ông lại được gọi là người xuất gia?’

‘Tôi được gọi là người xuất gia vì tôi ca ngợi hành vi có nguyên tắc và công bằng, hành động thiện xảo, việc làm tốt, không làm hại, và lòng từ ái đối với chúng sanh.’

‘Vậy thì ta ca ngợi người được gọi là người xuất gia, người ca ngợi hành vi có nguyên tắc và công bằng, hành động thiện xảo, việc làm tốt, không làm hại, và lòng từ ái đối với chúng sanh!’

12. Nay các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.

− Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có tể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bàla-môn đoán tướng không đúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, Hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.

13. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.

14. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia, đầu trọc, đắp áo cà sa. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác?” - “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!” - “Này khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?” - “Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh!” “Này khanh, hãy đánh xe đến gần vị xuất gia”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”.

Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử Vipassì, đánh xe đến gần người xuất gia. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì hỏi vị xuất gia: “Thưa Hiền giả, Ngài đã làm gì, mà đầu của Ngài không giống những người khác, và áo của Ngài không giống các người khác?” - “Thưa Hoàng tử, tôi là một người xuất gia!” - “Thưa Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?” - “Thưa Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”. - “Thưa Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của Ngài, lành thay khéo tu phạm hạnh, khéo tu tính hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”.

9. Sự Xuất Gia

Khi ấy, thái tử nói với người đánh xe: 'Vậy thì, này người đánh xe thân mến, hãy lấy xe ngựa trở về nội cung. Ta sẽ cạo bỏ râu tóc ngay tại đây, đắp y vàng nghệ, và từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà.'94

‘Thưa vâng, thưa Điện hạ,’ người đánh xe đáp và làm theo.

Khi ấy, Thái tử Vipassī cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng nghệ, và từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà.

15. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì bảo người đánh xe: “Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. - “Thưa vâng, Hoàng tử”. Người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì lấy xe và đánh xe về cung. Còn hoàng tử Vipassì, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

10. Đám Đông Lớn Xuất Gia

Một đám đông lớn gồm 84.000 người ở kinh thành Bandhumatī nghe tin Thái tử Vipassī đã xuất gia. Họ nghĩ rằng: ‘Đây hẳn không phải là giáo pháp và sự tu tập tầm thường, không phải là sự xuất gia tầm thường mà Thái tử Vipassī đã thực hiện. Nếu ngay cả thái tử cũng xuất gia, tại sao chúng ta không làm như vậy?’

Khi ấy, đám đông lớn gồm 84.000 người đó cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng nghệ, và đi theo Bồ-tát Vipassī, xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, sống không nhà.95 Được hội chúng đó hộ tống, ngài Vipassī du hành qua các làng mạc, thị trấn, và kinh thành.96

Khi ấy, khi đang độc cư (private retreat / sống một mình, xa lánh đám đông để tu tập) thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài: ‘Ta không thích hợp để sống giữa đám đông. Sao ta không sống một mình, tách khỏi nhóm?’ Sau một thời gian, ngài tách khỏi nhóm để sống một mình. 84.000 người đi một đường, nhưng ngài Vipassī đi một đường khác.

16. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, tại kinh đô Bandhumatì có một đại chúng tám vạn bốn ngàn người nghe tin: “Hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: “Pháp luật như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường, vì hoàng tử Vipassì trong pháp luật ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nay hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình tại sao chúng ta lại không?” Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng tám vạn bốn ngàn người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát Vipassì. Rồi Bồ-tát Vipassì cùng với đồ chúng, du hành, đi ngang qua những làng, thị xã và đô thị.

17. Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình, lánh xa đồ chúng này!”

Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Bồ-tát Vipassì sống một mình, lánh xa đồ chúng, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát Vipassì đi một ngả.

11. Những Suy Tư của Vipassī

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī, đang độc cư thiền định trong trú xứ của mình, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài:97 ‘Than ôi, thế giới này đã rơi vào khổ não. Nó sanh, già, chết, hoại diệt, rồi lại tái sanh, thế mà nó không hiểu làm sao để thoát khỏi khổ đau này, thoát khỏi già và chết.98 Ôi, khi nào mới tìm được lối thoát khỏi khổ đau này, thoát khỏi già và chết?’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: 'Khi cái gì có mặt thì có già và chết? Cái gì là điều kiện cho già và chết?'99 Rồi, nhờ như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ:100 'Khi sanh (rebirth / sự tái sinh) có mặt thì có già và chết. Sanh là điều kiện cho già và chết.'101

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: 'Khi cái gì có mặt thì có sanh? Cái gì là điều kiện cho sanh?'102 Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi hữu (continued existence / sự tiếp tục tồn tại, một trong 12 nhân duyên) có mặt thì có sanh. Hữu là điều kiện cho sanh.'103

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có hữu? Cái gì là điều kiện cho hữu?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thủ (grasping / sự bám víu, chấp giữ) có mặt thì có hữu. Thủ là điều kiện cho hữu.'104

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có thủ? Cái gì là điều kiện cho thủ?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi ái (craving / sự khao khát, ham muốn) có mặt thì có thủ. Ái là điều kiện cho thủ.'105

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có ái? Cái gì là điều kiện cho ái?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) có mặt thì có ái. Thọ là điều kiện cho ái.'106

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có thọ? Cái gì là điều kiện cho thọ?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi xúc (contact / sự tiếp xúc giữa giác quan, đối tượng và ý thức) có mặt thì có thọ. Xúc là điều kiện cho thọ.'107

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có xúc? Cái gì là điều kiện cho xúc?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi lục nhập (six sense fields / sáu cơ sở của giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) có mặt thì có xúc. Lục nhập là điều kiện cho xúc.'108

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có lục nhập? Cái gì là điều kiện cho lục nhập?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc (name and form / phần tâm lý và vật lý của một chúng sanh) có mặt thì có lục nhập. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập.'109

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có danh sắc? Cái gì là điều kiện cho danh sắc?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thức (consciousness / sự nhận biết, một trong năm uẩn và 12 nhân duyên) có mặt thì có danh sắc. Thức là điều kiện cho danh sắc.'110

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì có mặt thì có thức? Cái gì là điều kiện cho thức?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc có mặt thì có thức. Danh sắc là điều kiện cho thức.'111

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: 'Thức này quay trở lại từ danh sắc, và không đi xa hơn thế.‘112 Chỉ đến mức độ này mà người ta có thể tái sanh, già, chết, hoại diệt, hoặc xuất hiện trở lại. Đó là: Danh sắc là điều kiện cho thức. Thức là điều kiện cho danh sắc. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sanh. Sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não (sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress / các trạng thái khổ đau) khởi lên.113 Như vậy là toàn bộ khối khổ này tập khởi.’

‘Tập khởi, tập khởi.’ Như vậy là nhãn (vision / con mắt thấy pháp), tri (knowledge / sự hiểu biết), trí tuệ (wisdom / trí tuệ), minh (realization / sự giác ngộ), và quang (light / ánh sáng) đã khởi lên trong Bồ-tát Vipassī, đối với các giáo pháp chưa từng được nghe từ người khác trước đây.114

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có già và chết? Khi cái gì diệt thì già và chết diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sanh không có mặt thì không có già và chết. Khi sanh diệt, già và chết diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có sanh? Khi cái gì diệt thì sanh diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi hữu không có mặt thì không có sanh. Khi hữu diệt, sanh diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có hữu? Khi cái gì diệt thì hữu diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thủ không có mặt thì không có hữu. Khi thủ diệt, hữu diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có thủ? Khi cái gì diệt thì thủ diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi ái không có mặt thì không có thủ. Khi ái diệt, thủ diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có ái? Khi cái gì diệt thì ái diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thọ không có mặt thì không có ái. Khi thọ diệt, ái diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có thọ? Khi cái gì diệt thì thọ diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi xúc không có mặt thì không có thọ. Khi xúc diệt, thọ diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có xúc? Khi cái gì diệt thì xúc diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi lục nhập không có mặt thì không có xúc. Khi lục nhập diệt, xúc diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có lục nhập? Khi cái gì diệt thì lục nhập diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc không có mặt thì không có lục nhập. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có danh sắc? Khi cái gì diệt thì danh sắc diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thức không có mặt thì không có danh sắc. Khi thức diệt, danh sắc diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Khi cái gì không có mặt thì không có thức? Khi cái gì diệt thì thức diệt?’ Rồi, nhờ như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc không có mặt thì không có thức. Khi danh sắc diệt, thức diệt.’

Khi ấy, Bồ-tát Vipassī nghĩ: ‘Ta đã khám phá ra con đường dẫn đến giác ngộ. Đó là:115 Khi danh sắc diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sanh diệt. Khi sanh diệt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khối khổ này đoạn diệt.’

‘Diệt, diệt.’ Như vậy là nhãn, tri, trí tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Bồ-tát Vipassī, đối với các giáo pháp chưa từng được nghe từ người khác trước đây.116

Sau một thời gian, ngài thiền quán sự sanh diệt của ngũ thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sanh mà sự chấp thủ vào đó gây ra khổ đau: sắc, thọ, tưởng, hành, thức).117 'Đây là sắc (form / hình thể vật chất), đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ, đây là sự tập khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ. Đây là tưởng (perception / sự nhận biết-phân biệt và gắn nhãn), đây là sự tập khởi của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng. Đây là hành (choices / các tác ý, ý muốn, hành động có chủ đích), đây là sự tập khởi của hành, đây là sự đoạn diệt của hành.118 Đây là thức, đây là sự tập khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.'119 Thiền quán như vậy, tâm ngài sớm được giải thoát khỏi các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tiềm ẩn trong tâm) do không còn chấp thủ.120

Hết phần tụng đọc thứ hai.

18. Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do duyên gì, già chết sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh có mặt, nên già, chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên gì, sanh phát khởi?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì, hữu phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do duyên thủ, hữu phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên gì, thủ phát sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái có mặt, thủ mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên gì, ái phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên gì, thọ mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên gì xúc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh “.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do duyên gì, danh sắc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức có mặt, danh sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên gì, thức mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh”.

19. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Thức này xoay trở lui lại, từ nơi danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này”.

“Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.

20. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh không có mặt, già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt? Cái gì diệt, sánh diệt!. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu không có mặt, sanh không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt? Cái gì diệt, hữu diệt?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ không có mặt, hữu không có mặt, do thủ diệt, hữu diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt? Cái gì diệt, thủ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái không có mặt, thủ không có mặt, do ái diệt, thủ diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, ái không có mặt? Cái gì diệt, ái diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ không có mặt, ái không có mặt, do thọ diệt, ái diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt? Cái gì diệt, thọ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc không có mặt, thọ không có mặt, do xúc diệt, thọ diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt xúc không có mặt? Cái gì diệt, xúc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập không có mặt, xúc không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt? Cái gì diệt, lục nhập diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, lục nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, danh sắc không có mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức không có mặt, danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì không có mặt, thức không có mặt? Do cái gì diệt, thức diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, thức không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt”.

21. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Ôi, Ta đã chứng được con đường đưa đến Bồ-đề, nhờ pháp tu quán. Nghĩa là, do danh sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt, do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, ưu, bi, khổ, sầu, não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn diệt”.

“Diệt, diệt”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi hành pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.

22. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.

Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.

Tụng Phẩm III.

12. Lời Thỉnh Cầu của Phạm Thiên

Khi ấy, Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩ rằng:121 'Sao ta không thuyết giảng Chánh pháp?'122

Rồi ngài nghĩ: 'Nguyên lý mà ta đã khám phá ra này thì sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài phạm vi của lý luận suông, vi diệu, chỉ người trí mới có thể hiểu thấu.123 Nhưng chúng sanh lại thích ālaya (clinging / sự bám víu, chấp thủ), họ yêu thích và tận hưởng nó.124 Thật khó cho họ để thấy được chủ đề này; đó là, idappaccayatā paṭiccasamuppādo (specific conditionality, dependent origination / lý duyên khởi, sự tương thuộc của các pháp).125 Cũng thật khó cho họ để thấy được chủ đề này; đó là, sự tịch tịnh của mọi hành, sự từ bỏ mọi y theo, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn khổ đau).126 Và nếu ta thuyết giảng Chánh pháp, những người khác có thể không hiểu ta, điều đó sẽ làm ta mệt mỏi và phiền phức.'127

Và rồi những vần kệ này, không phải do thần linh mách bảo, cũng không phải đã từng học trước đây, đã khởi lên trong tâm ngài:128

'Ta đã phấn đấu gian khổ để nhận ra điều này,
Thôi đủ rồi, không cần cố gắng giải thích nữa!
Những kẻ chìm đắm trong tham lam và tức giận
Không thể thực sự hiểu được giáo lý này.

Nó đi ngược dòng, vi diệu,
Sâu sắc, khó dò, và rất tinh tế.
Những kẻ mê đắm bởi tham lam không thể thấy,
Vì họ bị bao phủ trong khối u tối.'129

Vì vậy, khi Đức Phật Vipassī suy tư như thế, tâm ngài nghiêng về sự thụ động, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.130

Khi ấy, một vị Đại Phạm thiên, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật Vipassī, đã nghĩ rằng:131 ‘Than ôi! Thế giới sẽ bị mất, thế giới sẽ bị hủy diệt! Vì tâm của Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, nghiêng về sự thụ động, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.’ Rồi, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hay co lại cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Đức Phật Vipassī. Vị ấy trịch áo qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật Vipassī, và nói: 'Bạch Ngài, xin Thế Tôn hãy thuyết giảng Chánh pháp! Xin Bậc Thánh hãy thuyết giảng Chánh pháp! 132 Có những chúng sanh ít bụi trong mắt. Họ đang suy thoái vì không được nghe Chánh pháp. Sẽ có những người hiểu được Chánh pháp!'133

Khi vị ấy nói điều này, Đức Phật Vipassī nói với vị ấy: 'Ta cũng đã nghĩ điều này, hỡi Phạm thiên, “Sao ta không thuyết giảng Chánh pháp?” Rồi ta nghĩ rằng, “Nếu ta thuyết giảng Chánh pháp, những người khác có thể không hiểu ta, điều đó sẽ làm ta mệt mỏi và phiền phức.”

Vì vậy, khi ta suy tư như thế, tâm ta nghiêng về sự thụ động, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.’

Lần thứ hai, và lần thứ ba, vị Đại Phạm thiên ấy thỉnh cầu Đức Phật thuyết giảng.

1. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác liền suy nghĩ: “Nay Ta hãy thuyết pháp”.

Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý “Y tánh duyên khởi pháp” (ida_paccayata paticca samuppàda); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được_ trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!” 2. Này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên:

Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó thấy pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.

Này các Tỷ-kheo, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp. Khi bấy giờ, một trong các vị Ðại Phạm thiên, khi biết được tư tưởng của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhờ tư tưởng của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp!”

3. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên ấy, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, cũng vậy vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp”.

4. Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói với vị Ðại Phạm thiên: “Này Phạm thiên, Ta đã suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật mệt mỏi cho Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta”. Này Phạm thiên, khi ấy những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng nghe khởi lên nơi Ta:

Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó mà thấy được pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.

Này Phạm thiên, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

5. Này các Tỷ-kheo, lần thứ hai vị Ðại Phạm thiên ấy… (như trên)…

6. Này các Tỷ-kheo, lần thứ ba, vị Ðại Phạm thiên ấy bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiên Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp!”

Khi ấy, hiểu được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, Đức Phật Vipassī quan sát thế gian bằng Phật nhãn (eye of a Buddha / con mắt trí tuệ của một vị Phật), vì lòng từ bi đối với chúng sanh.134 Và ngài thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, và một số có nhiều bụi trong mắt; có căn cơ bén nhạy và căn cơ yếu kém, có phẩm chất tốt và phẩm chất xấu, dễ dạy và khó dạy. Và một số trong họ sống thấy được sự nguy hiểm trong lỗi lầm liên quan đến đời sau, trong khi những người khác thì không.135 Giống như một hồ sen có hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng. Một số mọc và lớn lên trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, phát triển dưới nước. Một số mọc và lớn lên trong nước, vươn tới mặt nước. Và một số mọc và lớn lên trong nước nhưng vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không dính nước.

Cũng vậy, Đức Phật Vipassī thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, và một số có nhiều bụi trong mắt.

Khi ấy, vị Đại Phạm thiên ấy, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật Vipassī, đã nói với ngài bằng kệ:

'Đứng trên đỉnh núi đá cao vời,
Ngài có thể thấy chúng sanh khắp nơi.
Cũng vậy, hỡi Bậc Toàn Giác, thật thông tuệ,
Đã lên đến Đền Chân Lý,
Thoát khỏi sầu muộn, xin hãy nhìn xuống chúng sanh
Đang chìm trong sầu muộn,
Bị áp bức bởi sanh và già.

Hãy đứng lên, hỡi bậc Anh hùng! Bậc Chiến thắng, vị Trưởng đoàn,
Hãy đi khắp thế gian không còn nợ nần.
Xin Thế Tôn hãy thuyết giảng Chánh pháp!
Sẽ có những người hiểu được!’

Khi ấy, Đức Phật Vipassī nói với vị Đại Phạm thiên ấy bằng kệ:

‘Cánh cửa bất tử đã rộng mở!
Ai có tai hãy đặt niềm tin.136
Vì nghĩ rằng sẽ phiền phức, hỡi Phạm thiên,
Ta đã không thuyết giảng
Chánh pháp vi diệu, cao siêu giữa loài người.’

Khi ấy, vị Đại Phạm thiên, biết rằng lời thỉnh cầu của mình để Đức Phật Vipassī thuyết giảng Chánh pháp đã được chấp thuận, đã cúi đầu và đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.

Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết được lời khuyên thỉnh của vị Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhìn quanh thế giới với Phật nhãn. Ngài thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, một số ít thấy sự nguy hiểm phải tính sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm.

7. Rồi vị Ðại Phạm thiên, với tâm mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, liền nói với Ngài, bài kệ sau đây:

Như con người đứng trên đỉnh núi nhìn quanh dân chúng phía dưới.
Cũng vậy Ngài Sumedha lên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn, thoát ly sầu muộn.
Nhìn xuống quần chúng, âu lo sầu muộn bị sanh già áp bức.
Hãy đứng lên, bậc anh hùng, bậc chiến thắng ở chiến trường!
Vị trưởng đoàn lữ khách, đấng thoát ly mọi nợ nần!
Thế Tôn hãy đi khắp thế giới hoằng dương chánh pháp.
Có người nhờ được nghe, sẽ thâm hiểu diệu nghĩa!

Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trả lời vị Ðại Phạm thiên với bài kệ sau đây:

Cửa bất diệt đã được mở rộng, Hỡi những ai được nghe, hãy từ bỏ tà kiến của mình. Vì nghĩ đến mệt mỏi hoài công, này Phạm Thiên. Ta không muốn giảng Chánh pháp vi diệu cho loài người!

Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên với ý nghĩ: “Ta đã là người mở đường cho Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp”, rồi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

13. Các Vị Đại Đệ Tử

Khi ấy, Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩ rằng: ‘Ta nên thuyết giảng cho ai trước tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chánh pháp này?’ Rồi ngài nghĩ: ‘Khaṇḍa, con trai của vua, và Tissa, con trai của vị trưởng tế, là những người thông minh, có năng lực, khôn khéo, và từ lâu đã có ít bụi trong mắt.137 Sao ta không thuyết giảng cho họ trước tiên? Họ sẽ nhanh chóng hiểu được Chánh pháp này.’

Rồi, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hay co lại cánh tay, ngài biến mất khỏi cội cây giác ngộ và xuất hiện gần kinh thành Bandhumatī, trong vườn nai tên là Khema (Nơi An Toàn).138

Khi ấy, Đức Phật Vipassī nói với người giữ vườn:139 ‘Này người giữ vườn thân mến, xin hãy vào thành và nói với Khaṇḍa, con trai vua, và Tissa, con trai vị trưởng tế, như sau: “Thưa quý vị, Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, đã đến Bandhumatī và đang ở trong vườn nai tên là Khema. Ngài muốn gặp quý vị.”’

‘Thưa vâng, bạch Ngài,’ người giữ vườn đáp, và làm theo lời ngài.

Khi ấy, Khaṇḍa, con trai vua, và Tissa, con trai vị trưởng tế, cho thắng những cỗ xe tốt nhất. Rồi họ lên một cỗ xe tốt và cùng với những cỗ xe tốt khác, khởi hành từ Bandhumatī đến vườn nai Khema. Họ đi xe ngựa đến nơi địa hình cho phép, rồi xuống xe và đi bộ đến chỗ Đức Phật Vipassī. Họ cúi đầu và ngồi xuống một bên.

8. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Ta thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ mau hiểu chánh pháp này?”

Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Nay vương tử Khanda (Kiển-trà) và con vương sư Tissa (Ðề-xá) trú ở kinh đô Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề) là bậc trí thức đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm ô bởi bụi đời. Nay ta hãy thuyết pháp cho vương tử Khanda và con vương sư Tissa trước tiên, hai vị này sẽ sớm thâm hiểu chánh pháp này”.

Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, biến mất từ cây Bồ đề, hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khenma, kinh đô Bhadhumatì.

9. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi người giữ vườn: “Này bạn, hãy vào kinh đô Bandhumatì, nhắn với vương tử Khanda và con vương sư Tissa rằng Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì, hiện trú ở Lộc Uyển Khema và muốn gặp hai vị!” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, người giữ vườn vâng theo lời dạy của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào kinh đô Bandhumatì và thưa với vương tử Khanda và con vương sư Tissa: “Thưa quý vị, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì và hiện ở Lộc Uyển Khema. Ngài muốn gặp quý vị!”

10. Này các Tỷ-kheo, Vương tử Khanda và con vương sư Tissa cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng rồi cùng với các cỗ xe thù thắng khác, cho xe ra khỏi kinh thành Bandhumati, đi đến Lộc Uyển Khema, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến trước Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Khi đến nơi, hai vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Đức Phật Vipassī thuyết giảng cho họ tuần tự, với bài pháp về bố thí, giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), và các cõi trời. Ngài giải thích sự nguy hại của các dục lạc, thật thấp kém và ô uế, và lợi ích của sự xuất ly (renunciation / sự từ bỏ, thoát khỏi). Và khi ngài biết tâm họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, thoát khỏi các triền cái (hindrances / năm chướng ngại cho thiền định: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi), hoan hỷ, và có niềm tin, ngài giải thích giáo lý đặc biệt của chư Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Như tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ dễ dàng thấm thuốc nhuộm, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn (vision of the Dhamma / con mắt thấy pháp) không tỳ vết, thanh tịnh đã khởi lên trong Khaṇḍa, con trai vua, và Tissa, con trai vị trưởng tế: ‘Phàm cái gì có sanh khởi, cái đó đều có đoạn diệt.’

Họ đã thấy, đã đạt, đã hiểu, và đã thâm nhập Chánh pháp. Họ vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Họ nói với Đức Phật Vipassī: ‘Thật vi diệu, bạch Ngài! Thật vi diệu! Như thể người ta dựng lại cái đã đổ, hay phơi bày cái bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ Chánh pháp bằng nhiều cách. Chúng con xin quy y Thế Tôn và quy y Chánh pháp. Bạch Ngài, xin ngài cho chúng con được xuất gia và thọ cụ túc giới (ordination / nghi lễ chính thức để trở thành một Tỳ kheo) trước sự hiện diện của Đức Phật?’

Và họ đã được xuất gia, thọ cụ túc giới trước sự hiện diện của Đức Phật Vipassī.140 Khi ấy, Đức Phật Vipassī giáo huấn, khuyến khích, làm phấn chấn, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài pháp thoại. Ngài giải thích sự nguy hại của các pháp hữu vi (conditioned phenomena / các hiện tượng do duyên sanh), thật thấp kém và ô uế, và lợi ích của Niết-bàn. Được dạy như vậy, tâm họ sớm được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.141

11. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.

12. Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới”.

13. Này các Tỷ-kheo, vương tử Khanda và con vương sư Tissa được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy hai vị này, khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Và hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

14. Sự Xuất Gia của Đám Đông Lớn

Một đám đông lớn gồm 84.000 người ở kinh thành Bandhumatī nghe tin Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, đã đến Bandhumatī và đang ở trong vườn nai tên là Khema. Và họ nghe rằng Khaṇḍa, con trai vua, và Tissa, con trai vị trưởng tế, đã cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng nghệ, và xuất gia từ bỏ đời sống thế tục, sống không nhà trước sự hiện diện của Đức Phật. Họ nghĩ rằng: ‘Đây hẳn không phải là giáo pháp và sự tu tập tầm thường, không phải là sự xuất gia tầm thường mà Khaṇḍa, con trai vua, và Tissa, con trai vị trưởng tế, đã thực hiện. Nếu ngay cả họ cũng xuất gia, tại sao chúng ta không làm như vậy?’ Khi ấy, 84.000 người đó rời Bandhumatī đến vườn nai Khema, nơi họ đến gần Đức Phật Vipassī, cúi đầu và ngồi xuống một bên.

Đức Phật Vipassī thuyết giảng cho họ tuần tự, với bài pháp về bố thí, giới đức, và các cõi trời. Ngài giải thích sự nguy hại của các dục lạc, thật thấp kém và ô uế, và lợi ích của sự xuất ly. Và khi ngài biết tâm họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, thoát khỏi các triền cái, hoan hỷ, và có niềm tin, ngài giải thích giáo lý đặc biệt của chư Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Như tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ dễ dàng thấm thuốc nhuộm, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không tỳ vết, thanh tịnh đã khởi lên trong 84.000 người đó: ‘Phàm cái gì có sanh khởi, cái đó đều có đoạn diệt.’

Họ đã thấy, đã đạt, đã hiểu, và đã thâm nhập Chánh pháp. Họ vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Họ nói với Đức Phật Vipassī: ‘Thật vi diệu, bạch Ngài! Thật vi diệu!’ Và giống như Khaṇḍa và Tissa, họ xin và được thọ cụ túc giới. Khi ấy, Đức Phật thuyết giảng thêm cho họ.

Được dạy như vậy, tâm họ sớm được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.

14. Này các Tỷ-kheo, trong khi kinh thành Bandhumatì có đại chúng khoảng tám vạn bốn ngàn vị được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì và ở tại Lộc Uyển Khema. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn, Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”. Khi nghe vậy, các vị này tự nghĩ: “Chắc chắn, pháp luật này không thể tầm thường, sự xuất gia này không thể tầm thường, vì vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tại sao chúng ta lại không làm vậy?”

Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng ấy gồm khoảng tám vạn bốn ngàn vị đi ra khỏi kinh thành Bandhumatì đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở, Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

15. Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bồn ngàn vị này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.

16. Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhâ_p vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, Như người dựng đứng lại, những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”.

17. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị này được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này, nhờ Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan kỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp chủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

15. 84.000 Người Đã Xuất Gia Trước Đó

84.000 người đã xuất gia trước đó cũng nghe tin: ‘Có vẻ như Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, đã đến Bandhumatī và đang ở trong vườn nai tên là Khema. Và ngài đang thuyết giảng Chánh pháp!’ Khi ấy, họ cũng đến gặp Đức Phật Vipassī, liễu ngộ Chánh pháp, xuất gia, và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

18. Này các Tỷ-kheo, nay tám vạn bốn ngàn các vị xuất gia từ trước, được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì, ở tại Lộc Uyển Khema và thuyết pháp”. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, đi đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

19. Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh ra rồi cũng phải diệt”.

20. Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, Bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”

21. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp chủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

16. Sự Cho Phép Du Hành

Bấy giờ, có một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng những người xuất gia theo Phật) lớn gồm 6.800.000 Tỳ kheo đang cư trú tại Bandhumatī. Khi Đức Phật Vipassī đang độc cư thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài: 'Tăng đoàn đang cư trú tại Bandhumatī bây giờ rất lớn. Ta nên khuyến khích họ:

“Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của chư thiên và loài người.142 Đừng đi hai người cùng một con đường. Hãy thuyết giảng Chánh pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và hãy tuyên bố một đời sống phạm hạnh (spiritual practice / đời sống trong sạch, tu tập theo giới luật) hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Có những chúng sanh ít bụi trong mắt. Họ đang suy thoái vì không được nghe Chánh pháp. Sẽ có những người hiểu được Chánh pháp! Nhưng sau sáu năm, tất cả các ông phải đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn (monastic code / Pātimokkha, bộ giới luật của Tỳ kheo).”'143

Khi ấy, một vị Đại Phạm thiên, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật Vipassī, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hay co lại cánh tay, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Đức Phật Vipassī. Vị ấy trịch áo qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Phật Vipassī, và nói: ‘Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Bậc Thánh! Tăng đoàn đang cư trú tại Bandhumatī bây giờ rất lớn. Xin ngài hãy khuyến khích họ du hành, như ngài đã nghĩ. Và bạch Ngài, con sẽ đảm bảo rằng sau sáu năm, các Tỳ kheo sẽ trở về Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.’

Đó là những gì vị Đại Phạm thiên ấy đã nói. Rồi vị ấy cúi đầu và đi nhiễu quanh Đức Phật Vipassī theo chiều bên phải một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.

22. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh đô Bandhumatì, Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trong khi yên lặng tịnh cư đã suy nghĩ như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhumatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các vị Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

23. Này các Tỷ-kheo, một vị Ðại Phạm thiên khác, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ kheo, lúc bấy giờ vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch Ngài: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumati: “Này các Tỷ-kheo hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp”. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các vị Tỷ-kheo. Sau sáu năm, các vị này đến kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, lưng bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật Vipassī ra khỏi nơi độc cư và nói với các Tỳ kheo, kể lại tất cả những gì đã xảy ra. Rồi ngài nói:

‘Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi, và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Đừng đi hai người cùng một con đường. Hãy thuyết giảng Chánh pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và hãy tuyên bố một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Có những chúng sanh ít bụi trong mắt. Họ đang suy thoái vì không được nghe Chánh pháp. Sẽ có những người hiểu được Chánh pháp! Nhưng sau sáu năm, tất cả các ông phải đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.’

Khi ấy, hầu hết các Tỳ kheo đã khởi hành đi du hành khắp xứ ngay trong ngày hôm đó.

24. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào buổi chiều xuất định đứng dậy và nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, ý nghĩ sau đây khởi lên: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhamatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

25. Này các Tỷ-kheo, một Ðại Phạm thiên khác với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Ta. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mắt Ta. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và bạch với ta: “Như vậy là phải, Bạch Thế Tôn! Như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatì: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp, sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các Tỷ-kheo. Sau sáu năm các vị này sẽ đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Ta, lưng bên hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.

26. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến dạy các ngươi: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng chánh pháp sẽ bị nguy hại. (Nếu được nghe), sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy, một phần lớn trong ngày ấy đã lên đường đi khắp quốc độ.

Bấy giờ, có 84.000 tu viện ở xứ Jambudīpa (Ấn Độ).144 Và khi năm đầu tiên kết thúc, chư thiên cất tiếng kêu gọi: ‘Thưa quý vị, năm đầu tiên đã kết thúc. Bây giờ còn lại năm năm. Sau năm năm nữa, tất cả quý vị phải đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.’

Và khi năm thứ hai… năm thứ ba… năm thứ tư… năm thứ năm kết thúc, chư thiên cất tiếng kêu gọi: ‘Thưa quý vị, năm thứ năm đã kết thúc. Bây giờ còn lại một năm. Sau một năm nữa, tất cả quý vị phải đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.’

Và khi năm thứ sáu kết thúc, chư thiên cất tiếng kêu gọi: ‘Thưa quý vị, năm thứ sáu đã kết thúc. Bây giờ là lúc quý vị phải đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn.’ Khi ấy, ngay trong ngày hôm đó, các Tỳ kheo đã đến Bandhumatī để tụng đọc giới bổn. Một số đi bằng thần thông của chính mình, một số đi bằng thần thông của chư thiên.

Và ở đó, Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, đã tụng đọc giới bổn như sau:145

'Khổ hạnh (fervor / sự tu khổ hạnh) tối thượng là sự kham nhẫn.146
Niết-bàn là tối thượng, chư Phật dạy vậy.147
Không phải người xuất gia nếu làm hại người khác,
Cũng không phải sa-môn nếu làm tổn thương người khác.

Không làm mọi điều ác;148
Thành tựu các hạnh lành;149
Giữ tâm ý trong sạch:150
Đây là lời dạy của chư Phật.151

Không phỉ báng, không làm hại;
Chế ngự trong giới bổn;152
Tiết độ trong ăn uống;
Ở nơi trú ẩn xa vắng;
Chuyên tâm vào tâm cao thượng (higher mind / tâm được tu tập, phát triển thiền định và trí tuệ)—153
Đây là lời dạy của chư Phật.’

27. Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ tại Jambudìpa (Diêm phù đề) có tám vạn bốn ngàn túc xá. Khi một năm vừa mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, một năm vừa mãn, nay còn lại năm năm. Sau năm năm, hãy đến tại kinh đô Bandhamatì để tụng đọc giới bổn!”

Hai năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, hai năm vừa mãn, nay còn lại bốn năm. Sau bốn năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.

Ba năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, ba năm đã mãn, nay còn lại ba năm. Sau ba năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.

Bốn năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, bốn năm đã mãn, nay còn hai năm. Sau hai năm, hãy đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”

Năm năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, năm năm đã mãn, nay còn lại một năm. Sau một năm, hãy đến tại đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn!”

Sáu năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, sáu năm đã mãn. Nay đã đến ngày đi đến kinh đo Bandhumati để tụng đọc giới bổn”.

Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy, một số vị với thần lực của mình, một số với thần lực của chư Thiên trong ngày ấy đã đi đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn.

28. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỷ-kheo, tụng đọc giới bổn này:

“Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
“Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
“Người xuất gia hại người xuất gia khác.
“Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.\

“Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
“Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.\

“Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
“Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
“Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy”.

17. Được Chư Thiên Thông Báo

Một thời nọ, này các Tỳ kheo, Ta đang ở gần Ukkaṭṭhā, trong rừng Subhaga, dưới gốc một cây sa-la hùng vĩ.154 Khi Ta đang độc cư thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm: ‘Thật không dễ tìm được một nơi ở của chúng sanh mà Ta chưa từng ở trước đây trong suốt thời gian dài này, ngoại trừ chư thiên ở các Tịnh Cư Thiên (pure abodes / các cõi trời dành cho bậc Bất Lai).155 Sao Ta không đến thăm họ?’

Rồi, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hay co lại cánh tay, Ta biến mất khỏi rừng Subhaga và xuất hiện cùng với chư thiên ở cõi Vô Phiền (Aviha).

Trong hội chư thiên ấy, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn vị thiên tử đến gần Ta, cúi đầu, đứng sang một bên, và nói với Ta:156 'Cách đây chín mươi mốt kiếp, thưa thiện hữu, Đức Phật Vipassī đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác. Ngài sanh ra làm người thuộc dòng dõi quý tộc Sát-đế-lỵ, trong một gia đình Sát-đế-lỵ. Koṇḍañña là dòng họ của Ngài. Ngài sống 80.000 năm. Ngài giác ngộ dưới cội cây pāṭali. Ngài có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Khaṇḍa và Tissa. Ngài có ba lần hội chúng đệ tử—một lần gồm 6.800.000 vị, một lần gồm 100.000 vị, và một lần gồm 80.000 vị—tất cả đều là những Tỳ kheo đã lậu tận. Ngài có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Asoka. Cha của Ngài là vua Bandhumā, mẹ ruột là hoàng hậu Bandhumatī, và kinh thành của họ có tên là Bandhumatī. Và như vậy là sự xuất ly của ngài, như vậy là sự xuất gia của ngài, như vậy là sự siêng năng của ngài, như vậy là sự giác ngộ của ngài, và như vậy là sự chuyển pháp luân (rolling forth of the wheel of Dhamma / sự thuyết giảng Chánh pháp lần đầu tiên, làm bánh xe pháp bắt đầu lăn) của ngài.157 Và thưa thiện hữu, sau khi sống đời phạm hạnh dưới sự dẫn dắt của Đức Phật Vipassī đó, chúng con đã đoạn trừ dục lạc và được tái sanh về đây.'158

Và các vị thiên tử khác cũng đến và kể lại tương tự chi tiết về các Đức Phật Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana, và Kassapa.159

Trong hội chư thiên ấy, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn vị thiên tử đến gần Ta, cúi đầu, đứng sang một bên, và nói với Ta: ‘Trong hiện tại hiền kiếp này, thưa thiện hữu, Ngài đã xuất hiện trên thế gian, một bậc arahán, chánh đẳng chánh giác. Ngài sanh ra làm người thuộc dòng dõi quý tộc Sát-đế-lỵ, trong một gia đình Sát-đế-lỵ. Gotama là dòng họ của Ngài. Đối với Ngài, tuổi thọ ngắn ngủi, chóng qua. Người sống lâu cũng chỉ sống được một thế kỷ hoặc hơn một chút. Ngài giác ngộ dưới cội cây bồ đề. Ngài có một cặp đại đệ tử ưu tú tên là Sāriputta và Moggallāna. Ngài đã có một lần hội chúng đệ tử—1.250 Tỳ kheo đã lậu tận. Ngài có vị thị giả chính là Tỳ kheo tên Ānanda. Cha của Ngài là vua Suddhodana, mẹ ruột là Hoàng hậu Māyā, và kinh thành của Ngài là Kapilavatthu. Và như vậy là sự xuất ly của Ngài, như vậy là sự xuất gia của Ngài, như vậy là sự siêng năng của Ngài, như vậy là sự giác ngộ của Ngài, và như vậy là sự chuyển pháp luân của Ngài. Và thưa thiện hữu, sau khi sống đời phạm hạnh dưới sự dẫn dắt của Ngài, chúng con đã đoạn trừ dục lạc và được tái sanh về đây.’

29. Này các Tỷ-kheo, một thời ta ở tại Ukkhattha (Úc-Già La), trong rừng Subhaga, dưới gốc cây ta-la vương. Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta an lặng tịnh cư, tư tưởng sau đây khởi lên: “Có một trú xứ, một loại chúng sanh rất dễ đến mà Ta từ trước không đến ở trong một thời gian khá lâu! Ðó là chư Thiên Suddhàvàsa (Tịnh Cư thiên). Vậy nay Ta hãy đến chư Thiên ở Tịnh Cư thiên!”

Này các Tỷ-kheo, như một lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay có lại cánh tay đã duỗi ra, Ta biến mất ở Ukkattha, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Ta-La vương và hiện ra trước chư Thiên ở Tịnh Cư thiên. Trong đại chúng chư Thiên ấy một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau:

“Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh, thuộc chủng tánh Sát Ðế Ly. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câu-Ly-Nhã). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pàtali (Ba-ba-la). Này Hiền giả, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội, một Tăng hội sáu trăm tám mươi vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Bandhuma, mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhuma tên là Bandhumatì. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng con là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.

30. Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (… … ) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn, thuộc chủng tánh Sát-đế -lỵ, thuộc gia tộc Sát-đế-lỵ. Này Hiền giả, Thế Tôn thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm). Này Hiền giả, Thế Tôn tuổi thọ không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút. Này Hiền giả, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa- la). Này Hiền giả, Thế Tôn có hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử tên là Sàriputta và Moggallàna (Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên). Này Hiền giả, Thế Tôn có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này Hiền giả, Tăng hội này của Thế Tôn gồm toàn những vị đã diệt trừ lậu hoặc. Này Hiền giả, Thế Tôn có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương của Thế Tôn tên là Suddhodana (Tịnh Phạn), Hoàng hậu là Màyà (Ma-gia) kinh đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Này Hiền giả, Thế Tôn xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng tôi là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn, đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.

Rồi cùng với chư thiên ở cõi Vô Phiền, Ta đến thăm chư thiên ở cõi Vô Nhiệt (Atappa)… chư thiên ở cõi Thiện Hiện (Sudassa)… và chư thiên ở cõi Thiện Kiến (Sudassi). Rồi cùng với tất cả chư thiên này, Ta đến thăm chư thiên ở cõi Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha), nơi chúng Ta cũng có cuộc trò chuyện tương tự.

Và đó là cách Như Lai có thể nhớ lại sự ra đời, tên tuổi, dòng họ, tuổi thọ, các vị đại đệ tử, và các hội chúng đệ tử của các Đức Phật trong quá khứ, những vị đã bát-niết-bàn, đoạn tận hý luận, đoạn tận lộ trình, đoạn tận vòng luân hồi, và vượt thoát mọi khổ đau. Đó là vì Ta đã thấu suốt pháp giới, và cũng vì chư thiên đã nói cho Ta biết."160

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỳ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

31. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà (Vô Nhiệt thiên) đến chư Thiên Atappà (Vô Phiền thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi cùng với chư Thiên Avihà và chư Thiên Atappà đến chư Thiên Sudassà (Thiện Kiến thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà và chư Thiên Sudassa đến chư Thiên Sudassi (Thiện Hiện thiên).

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà, chư Thiên Sudassà và chư Thiên Sudassì đến chư Thiên Akanitthà (Sắc Cứu Kính thiên). Này các Tỷ-kheo, lại trong Ðại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời… (như đoạn kinh số 29)“. 32. Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (như trước) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời… (như đoạn kinh số 30)“.

33. Này các Tỷ-kheo, như vậy Như Lai khéo chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn này, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.

Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-