Skip to content

Các Bài Kinh Tương Ưng về Nhân Duyên

Chương về các Đức Phật

SN 12.1 Duyên Khởi Paṭiccasamuppādasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo!"

"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về duyên khởi (dependent origination / sự sinh khởi nhờ vào các điều kiện). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Vô minh (ignorance / sự không hiểu biết) là điều kiện cho hành (choices / các hành động có chủ ý) sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức (consciousness / sự nhận biết của tâm) sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc (name and form / tâm và thân) sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập (six sense fields / sáu giác quan và đối tượng của chúng) sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc (contact / sự tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng) sinh khởi. Xúc là điều kiện cho thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) sinh khởi. Thọ là điều kiện cho ái (craving / sự ham muốn, khao khát) sinh khởi. Ái là điều kiện cho thủ (grasping / sự bám víu, chấp giữ) sinh khởi. Thủ là điều kiện cho hữu (continued existence / quá trình tiếp diễn của sự sống) sinh khởi. Hữu là điều kiện cho sinh (rebirth / sự tái sinh) sinh khởi. Sinh là điều kiện cho lão tử (old age and death / sự già và chết), sầu, bi, khổ, ưu, não (sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress / buồn rầu, than khóc, đau đớn thể xác, buồn bã tinh thần, và phiền muộn) sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Đây được gọi là duyên khởi.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

SN 12.2 Phân Tích Vibhaṅgasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng và phân tích cho các ngươi về duyên khởi. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc sinh khởi. Xúc là điều kiện cho thọ sinh khởi. Thọ là điều kiện cho ái sinh khởi. Ái là điều kiện cho thủ sinh khởi. Thủ là điều kiện cho hữu sinh khởi. Hữu là điều kiện cho sinh sinh khởi. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn (aggregates / năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sanh), và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử.

Và thế nào là sinh? Sự tái sinh, sự bắt đầu, sự thụ thai, sự đầu thai, sự biểu hiện của các uẩn, và sự có được các căn xứ của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây được gọi là sinh.

Và thế nào là hữu? Có ba trạng thái tồn tại này. Tồn tại trong dục giới (sensual realm / cõi của các ham muốn giác quan), sắc giới (realm of luminous form / cõi của các hình thể vi tế), và vô sắc giới (formless realm / cõi không có hình thể vật chất). Đây được gọi là hữu.

Và thế nào là thủ? Có bốn loại chấp thủ này. Chấp thủ vào dục (sensual pleasures / các thú vui giác quan), kiến (views / các quan điểm, tà kiến), sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances/ giới cấm thủ, mê tín và rập khuôn), và thuyết ngã (theories of a self / các lý thuyết về một cái tôi thường hằng). Đây được gọi là thủ.

Và thế nào là ái? Có sáu loại ái này. Ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Đây được gọi là ái.

Và thế nào là thọ? Có sáu loại thọ này. Thọ sinh ra từ xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là thọ.

Và thế nào là xúc? Có sáu loại xúc này. Xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là xúc.

Và thế nào là lục nhập? Căn xứ của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là lục nhập.

Và thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng (perception / sự nhận biết, tri giác), (intention / chủ ý, ý định), xúc, và tác ý (application of mind / sự chú tâm, hướng tâm). Đây được gọi là danh. Tứ đại (four principal states / bốn yếu tố chính: đất, nước, lửa, gió), và sắc do tứ đại tạo thành. Đây được gọi là sắc. Như vậy là danh và như vậy là sắc. Đây được gọi là danh sắc.

Và thế nào là thức? Có sáu loại thức này. Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là thức.

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành.

Và thế nào là vô minh? Không biết về khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Đây được gọi là vô minh.

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.3 Thực Hành Paṭipadāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về con đường sai và con đường đúng. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là con đường sai? Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Đây được gọi là con đường sai.

Và thế nào là con đường đúng? Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây được gọi là con đường đúng."

SN 12.4 Về Phật Tỳ-bà-thi Vipassīsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Đức Phật Tỳ-bà-thi, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã giác ngộ hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và viên mãn) đã có suy nghĩ này trước khi giác ngộ, khi Ngài vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ: 'Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi, người đang hướng tâm đến giác ngộ, suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?' Rồi, qua như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có sinh? Cái gì là điều kiện cho sinh?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi hữu tồn tại thì có sinh. Hữu là điều kiện cho sinh.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có hữu? Cái gì là điều kiện cho hữu?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thủ tồn tại thì có hữu. Thủ là điều kiện cho hữu.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có thủ? Cái gì là điều kiện cho thủ?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi ái tồn tại thì có thủ. Ái là điều kiện cho thủ.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có ái? Cái gì là điều kiện cho ái?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thọ tồn tại thì có ái. Thọ là điều kiện cho ái.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có thọ? Cái gì là điều kiện cho thọ?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi xúc tồn tại thì có thọ. Xúc là điều kiện cho thọ.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có xúc? Cái gì là điều kiện cho xúc?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi lục nhập tồn tại thì có xúc. Lục nhập là điều kiện cho xúc.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có lục nhập? Cái gì là điều kiện cho lục nhập?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc tồn tại thì có lục nhập. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có danh sắc? Cái gì là điều kiện cho danh sắc?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thức tồn tại thì có danh sắc. Thức là điều kiện cho danh sắc.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có thức? Cái gì là điều kiện cho thức?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi hành tồn tại thì có thức. Hành là điều kiện cho thức.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có hành? Cái gì là điều kiện cho hành?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi vô minh tồn tại thì có hành. Vô minh là điều kiện cho hành.'

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. 'Sanh khởi, sanh khởi.' Khi Bồ-tát Tỳ-bà-thi đang hướng tâm đến giác ngộ, nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ngài về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh? Khi cái gì diệt thì sinh diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi hữu không tồn tại thì không có sinh. Khi hữu diệt, sinh diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có hữu? Khi cái gì diệt thì hữu diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thủ không tồn tại thì không có hữu. Khi thủ diệt, hữu diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có thủ? Khi cái gì diệt thì thủ diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi ái không tồn tại thì không có thủ. Khi ái diệt, thủ diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có ái? Khi cái gì diệt thì ái diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thọ không tồn tại thì không có ái. Khi thọ diệt, ái diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có thọ? Khi cái gì diệt thì thọ diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi xúc không tồn tại thì không có thọ. Khi xúc diệt, thọ diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có xúc? Khi cái gì diệt thì xúc diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi lục nhập không tồn tại thì không có xúc. Khi lục nhập diệt, xúc diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có lục nhập? Khi cái gì diệt thì lục nhập diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc không tồn tại thì không có lục nhập. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có danh sắc? Khi cái gì diệt thì danh sắc diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thức không tồn tại thì không có danh sắc. Khi thức diệt, danh sắc diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có thức? Khi cái gì diệt thì thức diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi hành không tồn tại thì không có thức. Khi hành diệt, thức diệt.'

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có hành? Khi cái gì diệt thì hành diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi vô minh không tồn tại thì không có hành. Khi vô minh diệt, hành diệt.'

Và như vậy, khi vô minh diệt, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. 'Đoạn diệt, đoạn diệt.' Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Bồ-tát Tỳ-bà-thi, người đang hướng tâm đến giác ngộ, về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác."

(Kể đầy đủ cho mỗi vị trong bảy vị Phật.)

SN 12.5 Thi-khí Sikhīsutta

"Đức Phật Thi-khí, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ..."

SN 12.6 Tỳ-xá-phù Vessabhūsutta

"Đức Phật Tỳ-xá-phù, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ..."

SN 12.7 Câu-lưu-tôn Kakusandhasutta

"Đức Phật Câu-lưu-tôn, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ..."

SN 12.8 Câu-na-hàm Koṇāgamanasutta

"Đức Phật Câu-na-hàm, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ..."

SN 12.9 Ca-diếp Kassapasutta

"Đức Phật Ca-diếp, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ..."

SN 12.10 Cồ-đàm Gotamasutta

"Này các Tỷ kheo, trước khi giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ—Ta đã suy nghĩ: 'Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có sinh? ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... 'Khi cái gì tồn tại thì có hành? Cái gì là điều kiện cho hành?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi vô minh tồn tại thì có hành. Vô minh là điều kiện cho hành.'

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. 'Sanh khởi, sanh khởi.' Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh? ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... 'Khi cái gì không tồn tại thì không có hành? Khi cái gì diệt thì hành diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi vô minh không tồn tại thì không có hành. Khi vô minh diệt, hành diệt.'

Và như vậy, khi vô minh diệt, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. 'Đoạn diệt, đoạn diệt.' Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác."

Chương về Vật Thực

SN 12.11 Vật Thực Āhārasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. ...

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực (fuels / thức ăn nuôi dưỡng) này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực (Solid food / thức ăn dạng vật chất), dù thô hay tế; xúc thực (contact as fuel / sự tiếp xúc làm thức ăn) là thứ hai, ý tư niệm thực (mental intention as fuel / ý định làm thức ăn) là thứ ba, và thức thực (consciousness as fuel / sự nhận biết làm thức ăn) là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của bốn loại vật thực này là gì? Là ái. Và nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của ái là gì? Là thọ. Và nguồn gốc của thọ là gì? Là xúc. Và nguồn gốc của xúc là gì? Là lục nhập. Và nguồn gốc của lục nhập là gì? Là danh sắc. Và nguồn gốc của danh sắc là gì? Là thức. Và nguồn gốc của thức là gì? Là hành. Và nguồn gốc của hành là gì? Là vô minh.

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.12 Phagguna Búi Tóc Moḷiyaphaggunasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra."

Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Moḷiyaphagguna thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, vậy ai tiêu thụ thức thực?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người tiêu thụ. Nếu Ta nói về một người tiêu thụ, thì câu hỏi ai tiêu thụ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: 'Thức là vật thực cho cái gì?' Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: 'Thức là vật thực làm điều kiện cho sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi cái đã được tái sinh có mặt, có lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc.'"

"Bạch Thế Tôn, vậy ai tiếp xúc?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người tiếp xúc. Nếu Ta nói về một người tiếp xúc, thì câu hỏi ai tiếp xúc mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: 'Cái gì là điều kiện cho xúc?' Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: 'Lục nhập là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ.'"

"Bạch Thế Tôn, vậy ai cảm thọ?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người cảm thọ. Nếu Ta nói về một người cảm thọ, thì câu hỏi ai cảm thọ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: 'Cái gì là điều kiện cho thọ?' Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: 'Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái.'"

"Bạch Thế Tôn, vậy ai khao khát?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người khao khát. Nếu Ta nói về một người khao khát, thì câu hỏi ai khao khát mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: 'Cái gì là điều kiện cho ái?' Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: 'Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ.'"

"Bạch Thế Tôn, vậy ai chấp thủ?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người chấp thủ. Nếu Ta nói về một người chấp thủ, thì câu hỏi ai chấp thủ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: 'Cái gì là điều kiện cho thủ?' Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: 'Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu.' ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Khi sáu xứ của xúc phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.13 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

SN 12.14 Sa-môn và Bà-la-môn (thứ 2) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Họ không hiểu những điều gì?

Họ không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Họ hiểu những điều gì?

Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

SN 12.15 Ca-chiên-diên Kaccānagottasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tôn giả Ca-chiên-diên đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói về điều gọi là 'chánh kiến' (right view / cái thấy đúng đắn). Chánh kiến được định nghĩa như thế nào?"

"Này Ca-chiên-diên, thế giới này phần lớn dựa vào hai khái niệm đối lập là tồn tại và không tồn tại.

Nhưng khi một người thấy được sự khởi sinh của thế giới với chánh trí tuệ, khái niệm về sự không tồn tại của thế giới sẽ không khởi lên. Và khi một người thấy được sự đoạn diệt của thế giới với chánh trí tuệ, khái niệm về sự tồn tại của thế giới sẽ không khởi lên.

Thế giới phần lớn bị trói buộc bởi sự lôi cuốn, chấp thủ, và cố chấp.

Nhưng nếu—đối với sự lôi cuốn, chấp thủ, sự cố định trong tâm, sự cố chấp, và khuynh hướng ngủ ngầm này—ngươi không bị lôi cuốn, không chấp thủ, và không cam kết với ý nghĩ 'cái ta của tôi', ngươi sẽ không còn nghi ngờ hay bất định rằng cái gì sinh khởi chỉ là khổ sinh khởi, và cái gì đoạn diệt chỉ là khổ đoạn diệt. Trí tuệ của ngươi về điều này không phụ thuộc vào người khác.

Đây là cách chánh kiến được định nghĩa.

'Tất cả đều tồn tại': đây là một cực đoan.

'Tất cả đều không tồn tại': đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai (Realized One / bậc đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Phật) giảng dạy bằng trung đạo (middle way / con đường tránh hai cực đoan):

'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

SN 12.16 Người Thuyết Pháp Dhammakathikasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'người thuyết Pháp'. Một người thuyết Pháp được định nghĩa như thế nào?"

"Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly (disillusionment / sự nhàm chán, không còn ảo tưởng), ly tham (dispassion / sự từ bỏ ham muốn), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt hoàn toàn) đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp'. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp'. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ, do yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt phiền não, trạng thái giải thoát cuối cùng) ngay trong đời này'.

Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly đối với sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... hành ... Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp'. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp'. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ, do yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này'."

SN 12.17 Với Ca-diếp, Du Sĩ Lõa Thể Acelakassapasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Du sĩ lõa thể Ca-diếp thấy Đức Phật từ xa đi tới. Ông đến gần Đức Phật và chào hỏi Ngài.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông đứng sang một bên và thưa với Đức Phật:

"Tôi muốn hỏi Tôn giả Cồ-đàm về một điểm, nếu ngài có thời gian để trả lời."

"Này Ca-diếp, bây giờ không phải lúc để hỏi. Chúng ta đã vào khu dân cư."

Lần thứ hai, và lần thứ ba, Ca-diếp thưa với Đức Phật và Đức Phật cũng trả lời như vậy. Khi được nói như vậy, Ca-diếp thưa với Đức Phật:

"Tôi không muốn hỏi nhiều."

"Hãy hỏi điều ông muốn, này Ca-diếp."

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khổ đau là do tự mình làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Ca-diếp," Đức Phật nói.

"Vậy khổ đau là do người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Ca-diếp," Đức Phật nói.

"Vậy, khổ đau là do cả mình và người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Ca-diếp," Đức Phật nói.

"Vậy khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Ca-diếp," Đức Phật nói.

"Vậy, không có cái gọi là khổ đau phải không?"

"Không phải là không có cái gọi là khổ đau. Khổ đau là có thật."

"Vậy Tôn giả Cồ-đàm không biết hay không thấy khổ đau sao?"

"Không phải là Ta không biết hay không thấy khổ đau. Ta biết khổ đau, Ta thấy khổ đau."

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói 'không phải vậy'. Nhưng ngài lại nói rằng có cái gọi là khổ đau. Và ngài nói rằng ngài biết khổ đau, và ngài thấy khổ đau. Bạch Thế Tôn, xin hãy giải thích khổ đau cho tôi! Xin hãy dạy tôi về khổ đau!"

"Giả sử người làm nghiệp cũng là người chịu quả báo. Thì đối với người đã tồn tại từ ban đầu, khổ đau là do tự mình làm ra. Tuyên bố này nghiêng về thường kiến (eternalism / quan điểm cho rằng có một cái gì đó thường hằng, vĩnh cửu). Giả sử một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo. Thì đối với người bị cảm thọ chi phối, khổ đau là do người khác làm ra. Tuyên bố này nghiêng về đoạn kiến (annihilationism / quan điểm cho rằng sau khi chết là hết, không còn gì cả). Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi được nói như vậy, Ca-diếp thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Bạch Thế Tôn, con có thể được xuất gia (going forth / từ bỏ đời sống tại gia để tu hành), được thọ giới (ordination / nghi lễ chính thức trở thành tu sĩ) trước sự hiện diện của Đức Phật không?"

"Này Ca-diếp, nếu một người trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác muốn xuất gia, thọ giới trong giáo pháp và giới luật này, họ phải trải qua bốn tháng thời gian thử thách (probation / giai đoạn tập sự). Khi bốn tháng đã qua, nếu các Tỷ kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, thọ giới để trở thành tu sĩ. Tuy nhiên, Ta đã nhận ra sự khác biệt của mỗi cá nhân."

"Bạch Thế Tôn, nếu cần bốn tháng thử thách trong trường hợp như vậy, con sẽ trải qua bốn năm thử thách. Khi bốn năm đã qua, nếu các Tỷ kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, thọ giới để trở thành tu sĩ."

Và du sĩ lõa thể Ca-diếp đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Ca-diếp, sống một mình, ẩn dật, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết chí, đã sớm chứng ngộ được đỉnh cao tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài đã sống và đạt được mục đích mà những người con trai của gia đình chân chính từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà, bằng chính tuệ giác của mình.

Ngài hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa cho nơi này." Và Tôn giả Ca-diếp đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

SN 12.18 Với Timbaruka Timbarukasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi du sĩ (wanderer / người tu hành đi lang thang, không có nơi ở cố định) Timbaruka đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, lạc và khổ là do tự mình làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Timbaruka," Đức Phật nói.

"Vậy lạc và khổ là do người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Timbaruka," Đức Phật nói.

"Vậy, lạc và khổ là do cả mình và người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Timbaruka," Đức Phật nói.

"Vậy lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra phải không?"

"Không phải vậy, này Timbaruka," Đức Phật nói.

"Vậy, không có cái gọi là lạc và khổ phải không?"

"Không phải là không có cái gọi là lạc và khổ. Lạc và khổ là có thật."

"Vậy Tôn giả Cồ-đàm không biết hay không thấy khổ đau sao?"

"Không phải là Ta không biết hay không thấy lạc và khổ. Ta biết lạc và khổ, Ta thấy lạc và khổ."

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói 'không phải vậy'. Nhưng ngài lại nói rằng có cái gọi là lạc và khổ. Và ngài nói rằng ngài biết lạc và khổ, và ngài thấy lạc và khổ. Bạch Thế Tôn, xin hãy giải thích lạc và khổ cho tôi! Xin hãy dạy tôi về lạc và khổ!"

"Giả sử rằng cảm thọ và người cảm thọ là một. Thì đối với người đã tồn tại từ ban đầu, lạc và khổ là do tự mình làm ra. Ta không nói điều này. Giả sử rằng cảm thọ là một chuyện và người cảm thọ là một chuyện khác. Thì đối với người bị cảm thọ chi phối, lạc và khổ là do người khác làm ra. Ta không nói điều này. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, du sĩ Timbaruka thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! ... Con xin quy y Tôn giả Cồ-đàm, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời."

SN 12.19 Người Trí và Kẻ Ngu Bālapaṇḍitasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, đối với một kẻ ngu bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Vì vậy có sự nhị nguyên của thân này và danh sắc bên ngoài. Xúc phụ thuộc vào sự nhị nguyên này. Khi tiếp xúc qua một trong sáu căn xứ, kẻ ngu trải nghiệm lạc và khổ.

Đối với một người trí bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Vì vậy có sự nhị nguyên của thân này và danh sắc bên ngoài. Xúc phụ thuộc vào sự nhị nguyên này. Khi tiếp xúc qua một trong sáu căn xứ, người trí trải nghiệm lạc và khổ.

Vậy, sự khác biệt giữa kẻ ngu và người trí là gì?"

"Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."

"Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Đối với một kẻ ngu bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Nhưng kẻ ngu đã không từ bỏ vô minh đó hay chấm dứt ái dục đó. Tại sao vậy? Kẻ ngu đã không hoàn thành con đường tâm linh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Do đó, khi thân họ tan rã, kẻ ngu được tái sinh trong một thân khác. Khi được tái sinh trong một thân khác, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Đối với một người trí bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Nhưng người trí đã từ bỏ vô minh đó và chấm dứt ái dục đó. Tại sao vậy? Người trí đã hoàn thành con đường tâm linh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Do đó, khi thân họ tan rã, người trí không được tái sinh trong một thân khác. Không được tái sinh trong một thân khác, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy. Đây là sự khác biệt ở đây giữa kẻ ngu và người trí, đó là, việc sống đời sống phạm hạnh."

SN 12.20 Các Điều Kiện Paccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về duyên khởi và các pháp duyên sinh (dependently originated phenomena / các hiện tượng sinh khởi do duyên). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Sinh là điều kiện cho lão tử. Dù cho các bậc Như Lai có xuất hiện hay không, quy luật tự nhiên này vẫn tồn tại, sự đều đặn của các nguyên lý tự nhiên này, sự bất biến của các nguyên lý tự nhiên này, tức là y duyên tánh (specific conditionality / tính chất duyên khởi đặc thù). Một bậc Như Lai hiểu và liễu tri điều này, rồi Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và phơi bày nó. 'Hãy xem,' Ngài nói, 'Sinh là điều kiện cho lão tử.'

Hữu là điều kiện cho sinh ... Thủ là điều kiện cho hữu ... Ái là điều kiện cho thủ ...

Thọ là điều kiện cho ái ... Xúc là điều kiện cho thọ ... Lục nhập là điều kiện cho xúc ... Danh sắc là điều kiện cho lục nhập ...

Thức là điều kiện cho danh sắc ...

Hành là điều kiện cho thức ... Vô minh là điều kiện cho hành. Dù cho các bậc Như Lai có xuất hiện hay không, quy luật tự nhiên này vẫn tồn tại, sự đều đặn của các nguyên lý tự nhiên này, sự bất biến của các nguyên lý tự nhiên này, tức là y duyên tánh. Một bậc Như Lai hiểu và liễu tri điều này, rồi Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và phơi bày nó. 'Hãy xem,' Ngài nói, 'Vô minh là điều kiện cho hành.' Vì vậy, sự thật rằng điều này là thực, không phải không thực, không phải khác đi; tính chất duyên khởi đặc thù của nó: đây được gọi là duyên khởi.

Và thế nào là các pháp duyên sinh? Lão tử là vô thường, do duyên tạo, duyên sinh, có tính chất kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Sinh ... Hữu ... Thủ ... Ái ...

Thọ ... Xúc ... Lục nhập ... Danh sắc ...

Thức ...

Hành ... Vô minh là vô thường, do duyên tạo, duyên sinh, có tính chất kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Đây được gọi là các pháp duyên sinh.

Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng đắc các quả vị thánh) đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ về duyên khởi này và các pháp duyên sinh này như chúng thực sự là, thì không thể nào họ quay lại quá khứ, suy nghĩ: 'Ta có tồn tại trong quá khứ không? Ta có không tồn tại trong quá khứ không? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Sau khi là gì, ta đã trở thành gì trong quá khứ?' Hoặc hướng về tương lai, suy nghĩ: 'Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Sau khi là gì, ta sẽ trở thành gì trong tương lai?' Hoặc do dự về hiện tại, suy nghĩ: 'Ta có phải là? Ta không phải là? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sanh này—nó từ đâu đến? Và nó sẽ đi về đâu?' Tại sao vậy? Bởi vì thánh đệ tử đó đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ về duyên khởi này và các pháp duyên sinh này như chúng thực sự là."

Chương về Mười Lực

SN 12.21 Mười Lực Dasabalasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một bậc Như Lai có mười lực và bốn loại tự tín. Với những điều này, Ngài chiếm vị trí của con bò đầu đàn, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp thiêng liêng.

Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ, như vậy là nguồn gốc của thọ, như vậy là sự chấm dứt của thọ. Như vậy là tưởng, như vậy là nguồn gốc của tưởng, như vậy là sự chấm dứt của tưởng. Như vậy là hành, như vậy là nguồn gốc của hành, như vậy là sự chấm dứt của hành. Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.

Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là:

Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.22 Mười Lực (thứ 2) Dutiyadasabalasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một bậc Như Lai có mười lực và bốn loại tự tín. Với những điều này, Ngài chiếm vị trí của con bò đầu đàn, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp thiêng liêng.

Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ, như vậy là nguồn gốc của thọ, như vậy là sự chấm dứt của thọ. Như vậy là tưởng, như vậy là nguồn gốc của tưởng, như vậy là sự chấm dứt của tưởng. Như vậy là hành, như vậy là nguồn gốc của hành, như vậy là sự chấm dứt của hành. Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.

Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là:

Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Vì vậy, giáo pháp đã được Ta giải thích rõ ràng, làm sáng tỏ, mở ra, soi sáng, và loại bỏ những chắp vá. Chỉ cần bấy nhiêu là đủ để một người con trai của gia đình đã xuất gia vì niềm tin khơi dậy năng lực của mình. 'Hoan hỷ thay, hãy để chỉ còn da, gân, và xương! Hãy để thịt và máu trong thân ta khô héo đi! Ta sẽ không ngừng cố gắng cho đến khi đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, năng lực, và nghị lực của con người.'

Một người lười biếng sống trong khổ đau, lẫn lộn với những phẩm chất xấu, bất thiện, và hủy hoại rất nhiều điều tốt đẹp của chính mình. Một người siêng năng sống hạnh phúc, xa lánh những phẩm chất xấu, bất thiện, và hoàn thành rất nhiều điều tốt đẹp của chính mình.

Điều tốt nhất không thể đạt được bởi điều tồi tệ nhất. Điều tốt nhất được đạt được bởi điều tốt nhất. Đời sống phạm hạnh này là tinh hoa, này các Tỷ kheo, và Bậc Đạo Sư đang ở trước mặt các ngươi.

Vì vậy, các ngươi nên khơi dậy năng lực để đạt được những gì chưa đạt được, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, suy nghĩ rằng: 'Bằng cách này, sự xuất gia của chúng ta sẽ không lãng phí, mà sẽ có kết quả và màu mỡ. Và việc chúng ta sử dụng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh sẽ mang lại quả báo và lợi ích lớn lao cho những người đã cúng dường.' Đó là cách các ngươi nên tu tập.

Xem xét những gì tốt cho chính mình, này các Tỷ kheo, là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng. Xem xét những gì tốt cho người khác là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng. Xem xét những gì tốt cho cả hai là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng."

SN 12.23 Các Điều Kiện Thiết Yếu Upanisasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não sâu kín) là dành cho người biết và thấy, không phải cho người không biết và không thấy. Dành cho người biết và thấy điều gì? 'Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ ... Như vậy là tưởng ... Như vậy là hành ... Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.' Sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho người biết và thấy điều này.

Ta nói rằng tri kiến về sự đoạn tận này có một điều kiện thiết yếu, nó không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau và luân hồi).' Ta nói rằng giải thoát có một điều kiện thiết yếu, nó không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Ly tham.' Ta nói rằng ly tham có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Yếm ly.' Ta nói rằng yếm ly có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Tri kiến như thật (truly knowing and seeing / sự biết và thấy đúng như bản chất sự vật).' Ta nói rằng tri kiến như thật có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Định (immersion / sự tập trung tâm ý cao độ).' Ta nói rằng định có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'An ổn (bliss / niềm vui, hạnh phúc vi tế).' Ta nói rằng an ổn có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Khinh an (tranquility / sự yên ổn).' Ta nói rằng khinh an có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Niềm vui (rapture / hỷ, niềm vui hân hoan).' Ta nói rằng niềm vui có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Hoan hỷ (joy / sự vui mừng).' Ta nói rằng hoan hỷ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Niềm tin (faith / tín).' Ta nói rằng niềm tin có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Khổ.' Ta nói rằng khổ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Sinh.' Ta nói rằng sinh có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Hữu.' Ta nói rằng hữu có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Thủ.' Ta nói rằng thủ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Ái.' Ta nói rằng ái có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: 'Thọ.' ... Các ngươi nên nói: 'Xúc.' ... Các ngươi nên nói: 'Lục nhập.' ... Các ngươi nên nói: 'Danh sắc.' ... Các ngươi nên nói: 'Thức.' ... Các ngươi nên nói: 'Hành.' ... Ta nói rằng hành có một điều kiện thiết yếu, chúng không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và điều kiện thiết yếu cho hành là gì? Các ngươi nên nói: 'Vô minh.'

Vì vậy, vô minh là điều kiện thiết yếu cho hành. Hành là điều kiện thiết yếu cho thức. Thức là điều kiện thiết yếu cho danh sắc. Danh sắc là điều kiện thiết yếu cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện thiết yếu cho xúc. Xúc là điều kiện thiết yếu cho thọ. Thọ là điều kiện thiết yếu cho ái. Ái là điều kiện thiết yếu cho thủ. Thủ là điều kiện thiết yếu cho hữu. Hữu là điều kiện thiết yếu cho sinh. Sinh là điều kiện thiết yếu cho khổ. Khổ là điều kiện thiết yếu cho niềm tin. Niềm tin là điều kiện thiết yếu cho hoan hỷ. Hoan hỷ là điều kiện thiết yếu cho niềm vui. Niềm vui là điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khinh an là điều kiện thiết yếu cho an ổn. An ổn là điều kiện thiết yếu cho định. Định là điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Tri kiến như thật là điều kiện thiết yếu cho yếm ly. Yếm ly là điều kiện thiết yếu cho ly tham. Ly tham là điều kiện thiết yếu cho giải thoát. Giải thoát là điều kiện thiết yếu cho tri kiến về sự đoạn tận.

Giống như khi trời mưa lớn trên đỉnh núi, và nước chảy xuống đồi để lấp đầy các hốc, khe, và suối nhỏ. Khi chúng đầy, chúng lấp đầy các ao. Các ao lấp đầy các hồ, các hồ lấp đầy các dòng suối, và các dòng suối lấp đầy các con sông. Và khi các con sông đầy, chúng lấp đầy đại dương.

Cũng vậy, vô minh là điều kiện thiết yếu cho hành. ... Giải thoát là điều kiện thiết yếu cho tri kiến về sự đoạn tận."

SN 12.24 Tín Đồ Các Tôn Giáo Khác Aññatitthiyasutta

Gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm. Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Rồi ngài khởi lên ý nghĩ: "Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương-xá. Tại sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?"

Rồi ngài đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với ngài:

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, có những vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Sa-môn Cồ-đàm nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng tôi nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì sa-môn Cồ-đàm đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng tôi nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?"

"Thưa các Tôn giả, Đức Phật đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nếu các vị nói điều này, các vị sẽ lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật. Các vị sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của ngài, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

Tôn giả A-nan đã nghe cuộc thảo luận này giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và các du sĩ ngoại đạo đó. Rồi A-nan đi khất thực ở Vương-xá. Sau bữa ăn, trên đường trở về từ chuyến khất thực, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

"Tốt lắm, tốt lắm, A-nan! Đúng như Xá-lợi-phất đã giải thích rất đúng. Ta đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc.

A-nan, có một lần Ta đang ở gần Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Rồi Ta đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Rồi Ta nghĩ: 'Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương-xá. Tại sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?'

Rồi Ta đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, Ta ngồi xuống một bên. ..."

(Các du sĩ đã hỏi Đức Phật những câu hỏi y hệt, và Ngài đã đưa ra những câu trả lời tương tự.)

"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật đáng kinh ngạc, làm thế nào mà toàn bộ vấn đề được trình bày chỉ bằng một câu. Liệu có một lời giải thích chi tiết về vấn đề này vừa sâu sắc vừa có vẻ sâu sắc không?"

"Vậy thì, A-nan, hãy tự mình làm sáng tỏ vấn đề này."

"Bạch Thế Tôn, giả sử họ hỏi con: 'Thưa Tôn giả A-nan, nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của lão tử là gì?' Con sẽ trả lời như thế này: 'Thưa các Tôn giả, sinh là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của lão tử.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: 'Nguồn gốc của sinh là gì?' Con sẽ trả lời như thế này: 'Hữu là nguồn gốc của sinh.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: 'Nguồn gốc của hữu là gì?' Con sẽ trả lời như thế này: 'Thủ là nguồn gốc của hữu.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: 'Nguồn gốc của thủ là gì?' ... ái ... thọ ... Giả sử họ hỏi con: 'Nguồn gốc của xúc là gì?' Con sẽ trả lời như thế này: 'Lục nhập là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của xúc.' 'Khi sáu xứ của xúc phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

SN 12.25 Với Bhūmija Bhūmijasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhūmija ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, có những vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do cả mình và người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Đức Phật nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng ta nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng ta nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?"

"Thưa Tôn giả, Đức Phật đã nói rằng lạc và khổ là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nếu ngài nói điều này, ngài sẽ lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật. Ngài sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của ngài, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

Tôn giả A-nan đã nghe cuộc thảo luận này giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Bhūmija. Rồi Tôn giả A-nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

"Tốt lắm, tốt lắm, A-nan! Đúng như Xá-lợi-phất đã giải thích rất đúng. Ta đã nói rằng lạc và khổ là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc.

A-nan, chừng nào còn có thân, ý định tạo ra hành động của thân sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Chừng nào còn có lời nói, ý định tạo ra hành động của lời nói sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Chừng nào còn có tâm, ý định tạo ra hành động của tâm sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Nhưng những điều này chỉ áp dụng khi có vô minh làm điều kiện.

Tự mình khởi xướng hành động của thân, lời nói, và tâm, do đó mà lạc và khổ phát sinh trong chính mình. Hoặc người khác khởi xướng hành động ... Tự mình có ý thức khởi xướng hành động ... Hoặc tự mình vô thức khởi xướng hành động ...

Vô minh bao gồm trong tất cả những điều này. Nhưng khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, không còn thân, không còn lời nói, và không còn tâm, do đó mà lạc và khổ không còn phát sinh trong chính mình. Không còn trường, không còn đất, không còn phạm vi, không còn cơ sở, do đó mà lạc và khổ không còn phát sinh trong chính mình."

SN 12.26 Với Upavāna Upavāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tôn giả Upavāna đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, có một số sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra.

Đức Phật nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng con nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng con nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?"

"Này Upavāna, Ta đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Trong trường hợp những sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Trong trường hợp những sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. ... Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

SN 12.27 Các Điều Kiện Paccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử. Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Và thế nào là sinh? ... Và thế nào là hữu? ... Và thế nào là thủ? ... Và thế nào là ái? ... Và thế nào là thọ? ... Và thế nào là xúc? ... Và thế nào là lục nhập? ... Và thế nào là danh sắc? ... Và thế nào là thức? ...

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành. Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu các điều kiện, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử'."

SN 12.28 Một Tỷ Kheo Bhikkhusutta

Tại Xá-vệ.

"Một Tỷ kheo hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử. Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Và thế nào là sinh? ... Và thế nào là hữu? ... Và thế nào là thủ? ... Và thế nào là ái? ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ...

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành. Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một Tỷ kheo hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử'."

SN 12.29 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những vị sa-môn và bà-la-môn không hoàn toàn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hoàn toàn hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ không hoàn toàn hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hoàn toàn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hoàn toàn hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hoàn toàn hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

SN 12.30 Sa-môn và Bà-la-môn (thứ 2) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Không thể nào họ sẽ an trú vượt qua được lão tử. Họ không hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Không thể nào họ sẽ an trú vượt qua được hành.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Có thể họ sẽ an trú vượt qua được lão tử. Họ hiểu về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Có thể họ sẽ an trú vượt qua được hành."

Chương với Kaḷāra, người Quý tộc

SN 12.31 Cái Đã Thành Bhūtasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Xá-vệ.

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: "Này Xá-lợi-phất, điều này đã được nói trong 'Con Đường đến Bờ Kia', trong 'Những Câu Hỏi của Ajita':

'Có những người đã thẩm định giáo pháp,
và nhiều loại người tu học ở đây.
Hãy nói cho tôi biết về hành vi của họ, hỡi bạn hiền,
khi được hỏi, vì bạn là người tỉnh thức.'

Chúng ta nên hiểu ý nghĩa chi tiết của câu nói ngắn gọn này như thế nào?"

Khi Ngài nói điều này, Xá-lợi-phất giữ im lặng.

Lần thứ hai ...

Lần thứ ba ...

Xá-lợi-phất giữ im lặng.

"Này Xá-lợi-phất, ngươi có thấy rằng cái này đã thành không?"

"Bạch Thế Tôn, một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng cái này đã thành. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã thành. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng nó khởi sinh với vật thực đó. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vật thực cho sự khởi sinh của nó. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng khi vật thực đó diệt, cái đã thành có khả năng diệt. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái có khả năng diệt. Bằng cách này, người ấy là một người tu học.

Và, bạch Thế Tôn, người đã thẩm định giáo pháp là gì? Bạch Thế Tôn, một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng cái này đã thành. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã thành. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng nó khởi sinh với vật thực đó. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vật thực cho sự khởi sinh của nó. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng khi vật thực đó diệt, cái đã thành có khả năng diệt. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái có khả năng diệt. Bằng cách này, người ấy đã thẩm định giáo pháp.

Bạch Thế Tôn, về những gì đã được nói trong 'Con Đường đến Bờ Kia', trong 'Những Câu Hỏi của Ajita':

'Có những người đã thẩm định giáo pháp,
và nhiều loại người tu học ở đây.
Hãy nói cho tôi biết về hành vi của họ, hỡi bạn hiền,
khi được hỏi, vì bạn là người tỉnh thức.'

Đây là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì đã được nói ngắn gọn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất!" (Đức Phật lặp lại toàn bộ lời giải thích của Xá-lợi-phất, kết luận:)

Đây là cách để hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì đã được nói ngắn gọn."

SN 12.32 Với Kaḷāra, người Quý tộc Kaḷārasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tỷ kheo Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: "Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, Tỷ kheo Moḷiyaphagguna đã từ bỏ việc tu học và trở về đời sống thấp kém hơn."

"Vị tôn giả đó chắc hẳn đã không tìm thấy sự hài lòng nào trong giáo pháp và giới luật này."

"Vậy thì, Tôn giả Xá-lợi-phất đã tìm thấy sự hài lòng trong giáo pháp và giới luật này chưa?"

"Thưa Tôn giả, tôi không có sự bất định nào."

"Nhưng còn tương lai thì sao?"

"Tôi không có nghi ngờ."

Rồi Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã tuyên bố giác ngộ: 'Tôi hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này."'"

Vì vậy, Đức Phật gọi một trong các vị Tăng: "Này Tỷ kheo, hãy nhân danh Ta nói với Xá-lợi-phất rằng Bậc Đạo Sư triệu tập ông ấy."

"Vâng, bạch Thế Tôn," vị Tăng đó đáp lời. Ông đến gặp Xá-lợi-phất và nói với ngài: "Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, Bậc Đạo Sư triệu tập ngài."

"Vâng, thưa Tôn giả," Xá-lợi-phất đáp. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài: "Này Xá-lợi-phất, có thật là ngươi đã tuyên bố giác ngộ: 'Tôi hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này"' không?"

"Bạch Thế Tôn, con đã không trình bày vấn đề bằng những từ ngữ và câu cú này."

"Này Xá-lợi-phất, dù một người con trai của gia đình tuyên bố giác ngộ như thế nào, những gì ông ấy đã tuyên bố nên được xem là như vậy."

"Bạch Thế Tôn, con cũng đã không nói rằng con đã không trình bày vấn đề bằng những từ ngữ và câu cú này sao?"

"Này Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, làm thế nào ngài đã biết và thấy để tuyên bố giác ngộ: "Tôi hiểu rằng: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'"?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Thưa các Tôn giả, vì sự đoạn diệt của nguồn gốc tái sinh, khi nó đã diệt, tôi biết "nó đã diệt". Biết điều này, tôi hiểu: "Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này."' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nhưng nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của tái sinh là gì?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Hữu là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của tái sinh.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nguồn gốc của hữu là gì?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Thủ là nguồn gốc của hữu.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nguồn gốc của thủ là gì?' ... Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nguồn gốc của ái là gì?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Thọ là nguồn gốc của ái.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nhưng làm thế nào ngài đã biết và thấy để sự thưởng thức các cảm thọ không còn hiện hữu?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Thưa các Tôn giả, có ba cảm thọ. Ba cảm thọ nào? Lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ. Ba cảm thọ này là vô thường, và cái gì vô thường là khổ. Khi tôi hiểu điều này, sự thưởng thức các cảm thọ không còn hiện hữu.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất! Điểm tương tự cũng có thể được giải thích ngắn gọn theo cách này: 'Khổ bao gồm bất cứ điều gì được cảm nhận.'

Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: 'Nhưng thưa Tôn giả, làm thế nào ngài đã được giải thoát để tuyên bố giác ngộ: "Tôi hiểu rằng: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'"?' Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: 'Vì sự giải thoát nội tâm với sự đoạn diệt của tất cả chấp thủ, tôi sống chánh niệm để các lậu hoặc không làm ô nhiễm tôi và tôi không coi thường chính mình.' Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất! Điểm tương tự cũng có thể được giải thích ngắn gọn theo cách này: 'Tôi không có sự bất định nào về các lậu hoặc được sa-môn nói đến. Tôi không có nghi ngờ rằng tôi đã từ bỏ chúng.'"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Khi Ngài đã nói xong, Bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và vào nơi ở của mình.

Rồi ngay sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỷ kheo: "Thưa các Tôn giả, câu hỏi đầu tiên mà Đức Phật hỏi tôi là điều mà tôi chưa từng xem xét trước đây, vì vậy tôi đã do dự. Nhưng khi Đức Phật đồng ý với câu trả lời của tôi, tôi nghĩ: 'Nếu Đức Phật hỏi tôi cả ngày về vấn đề này bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau, tôi có thể trả lời cả ngày bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau. Nếu ngài hỏi tôi cả đêm, cả ngày lẫn đêm, trong hai ngày đêm, ba, bốn, năm, sáu, hoặc bảy ngày đêm, tôi có thể trả lời bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau trong bảy ngày đêm.'"

Rồi Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã rống lên tiếng rống sư tử của mình!" (Và ông kể lại cho Đức Phật tất cả những gì Xá-lợi-phất đã nói.)

"Này Tỷ kheo, Xá-lợi-phất đã liễu tri rõ ràng nguyên lý của giáo pháp, đến nỗi ông ấy có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào Ta có thể hỏi ông ấy bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau cho đến ngày và đêm thứ bảy."

SN 12.33 Nền Tảng của Tri Kiến Ñāṇavatthusutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến là gì? Tri kiến về lão tử, tri kiến về nguồn gốc của lão tử, tri kiến về sự đoạn diệt của lão tử, và tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử. Tri kiến về sinh ... Tri kiến về hữu ... Tri kiến về thủ ... Tri kiến về ái ... Tri kiến về thọ ... Tri kiến về xúc ... Tri kiến về lục nhập ... Tri kiến về danh sắc ... Tri kiến về thức ... Tri kiến về hành, tri kiến về nguồn gốc của hành, tri kiến về sự đoạn diệt của hành, và tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành. Đây được gọi là bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử.

Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đây là tri kiến của họ về hiện tượng hiện tại. Với hiện tượng hiện tại này được thấy, biết, tức thời, đạt được, và thấu hiểu, họ suy luận về quá khứ và tương lai.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong quá khứ đã trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ đều trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ sẽ trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ. Đây là tri kiến suy luận của họ.

Một thánh đệ tử đã thanh lọc và làm trong sạch hai tri kiến này—tri kiến về các hiện tượng hiện tại, và tri kiến suy luận. Khi một thánh đệ tử đã làm điều này, họ được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử'.

Và thế nào là sinh? ... Và thế nào là hữu? ... Và thế nào là thủ? ... Và thế nào là ái? ... Và thế nào là thọ? ... Và thế nào là xúc? ... Và thế nào là lục nhập? ... Và thế nào là danh sắc? ... Và thế nào là thức? ... Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành.

Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đây là tri kiến của họ về hiện tượng hiện tại. Với hiện tượng hiện tại này được thấy, biết, tức thời, đạt được, và thấu hiểu, họ suy luận về quá khứ và tương lai.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong quá khứ đã trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ đều trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ sẽ trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ. Đây là tri kiến suy luận của họ.

Một thánh đệ tử đã thanh lọc và làm trong sạch hai tri kiến này—tri kiến về các hiện tượng hiện tại, và tri kiến suy luận. Khi một thánh đệ tử đã làm điều này, họ được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử'."

SN 12.34 Nền Tảng của Tri Kiến (thứ 2) Dutiyañāṇavatthusutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến là gì? Tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Cũng về quá khứ: tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Cũng về tương lai: tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Và cũng là tri kiến của họ rằng ngay cả tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên này cũng có khả năng kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt.

Tri kiến rằng hữu là điều kiện cho sinh ... Tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Cũng về quá khứ: tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Cũng về tương lai: tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Và cũng là tri kiến của họ rằng ngay cả tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên này cũng có khả năng kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Đây được gọi là bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến."

SN 12.35 Vô Minh là Điều Kiện Avijjāpaccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh."

Khi được nói như vậy, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói. "Ngươi có thể nói, 'Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?' Hoặc ngươi có thể nói, 'Lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Sinh là điều kiện cho lão tử.'"

"Bạch Thế Tôn, sinh là gì, và nó thuộc về ai?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói. "Ngươi có thể nói, 'Sinh là gì, và nó thuộc về ai?' Hoặc ngươi có thể nói, 'Sinh là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Hữu là điều kiện cho sinh.'"

"Bạch Thế Tôn, hữu là gì, và nó dành cho ai?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói. "Ngươi có thể nói, 'Hữu là gì, và nó thuộc về ai?' Hoặc ngươi có thể nói, 'Hữu là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là đồng nhất, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Thủ là điều kiện cho hữu.' ... 'Ái là điều kiện cho thủ.' ... 'Thọ là điều kiện cho ái.' ... 'Xúc là điều kiện cho thọ.' ... 'Lục nhập là điều kiện cho xúc.' ... 'Danh sắc là điều kiện cho lục nhập.' ... 'Thức là điều kiện cho danh sắc.' ... 'Hành là điều kiện cho thức.'"

"Bạch Thế Tôn, hành là gì, và chúng thuộc về ai?"

"Câu hỏi đó không phù hợp," Đức Phật nói. "Ngươi có thể nói, 'Hành là gì, và chúng thuộc về ai?' Hoặc ngươi có thể nói, 'Hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành.'

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?' hoặc 'lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác', hoặc 'linh hồn và thân xác là một', hoặc 'linh hồn và thân xác là khác nhau.' Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Sinh là gì, và nó thuộc về ai?' hoặc 'sinh là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác', hoặc 'linh hồn và thân xác là một', hoặc 'linh hồn và thân xác là khác nhau.' Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Hữu là gì ...' 'Thủ là gì ...' 'Ái là gì ...' 'Thọ là gì ...' 'Xúc là gì ...' 'Lục nhập là gì ...' 'Danh sắc là gì ...' 'Thức là gì ...'

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Hành là gì, và chúng thuộc về ai?' hoặc 'hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác', hoặc 'linh hồn và thân xác là một', hoặc 'linh hồn và thân xác là khác nhau.' Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

SN 12.36 Vô Minh là Điều Kiện (thứ 2) Dutiyaavijjāpaccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Này các Tỷ kheo, các ngươi có thể nói, 'Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?' Hoặc các ngươi có thể nói, 'Lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Sinh là điều kiện cho lão tử.'

'Sinh là gì ...' 'Hữu là gì ...' 'Thủ là gì ...' 'Ái là gì ...' 'Thọ là gì ...' 'Xúc là gì ...' 'Lục nhập là gì ...' 'Danh sắc là gì ...' 'Thức là gì ...' Các ngươi có thể nói, 'Hành là gì, và chúng thuộc về ai?' Hoặc các ngươi có thể nói, 'Hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác.' Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là đồng nhất, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành.'

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?' hoặc 'lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác', hoặc 'linh hồn và thân xác là đồng nhất', hoặc 'linh hồn và thân xác là khác nhau'. Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: 'Sinh là gì ...' 'Hữu là gì ...' 'Thủ là gì ...' 'Ái là gì ...' 'Thọ là gì ...' 'Xúc là gì ...' 'Lục nhập là gì ...' 'Danh sắc là gì ...' 'Thức là gì ...' 'Hành là gì, và chúng thuộc về ai?' hoặc 'hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác', hoặc 'linh hồn và thân xác là đồng nhất', hoặc 'linh hồn và thân xác là khác nhau'. Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

SN 12.37 Không Phải Của Ngươi Natumhasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, thân này không phải của các ngươi hay của bất kỳ ai khác. Nó là nghiệp cũ, và cần được xem là được tạo ra bởi các hành và ý định, là thứ để được cảm thọ.

Một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

SN 12.38 Ý Định Cetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ diệt, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.39 Ý Định (thứ 2) Dutiyacetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. ... ái ... thủ ... hữu ... sinh ... lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, và não đến. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.40 Ý Định (thứ 3) Tatiyacetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có một khuynh hướng. Khi có một khuynh hướng, có sự đến và đi. Khi có sự đến và đi, có sự qua đời và tái hiện. Khi có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có một khuynh hướng. Khi có một khuynh hướng, có sự đến và đi. Khi có sự đến và đi, có sự qua đời và tái hiện. Khi có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, không có khuynh hướng. Khi không có khuynh hướng, không có sự đến và đi. Khi không có sự đến và đi, không có sự qua đời và tái hiện. Khi không có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ diệt, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Chương về Gia Chủ

SN 12.41 Nguy Hiểm và Đe Dọa Pañcaverabhayasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi gia chủ Cấp Cô Độc đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với gia chủ Cấp Cô Độc:

"Này gia chủ, khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu (stream-enterer / người đã nhập vào dòng thánh), và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: 'Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.'

Năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan là gì? Bất kỳ ai giết hại chúng sanh đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc giết hại chúng sanh.

Bất kỳ ai trộm cắp đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc trộm cắp.

Bất kỳ ai có hành vi tà dâm đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ hành vi tà dâm.

Bất kỳ ai nói dối đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc nói dối.

Bất kỳ ai tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say. Đây là năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan.

Bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc vào Đức Phật: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác, thành tựu về minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.'

Họ có niềm tin vững chắc vào giáo pháp: 'Giáo pháp được Đức Phật giải thích rõ ràng—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí có thể tự mình biết.'

Họ có niềm tin vững chắc vào Tăng đoàn: 'Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có hệ thống, và đúng đắn. Tăng đoàn bao gồm bốn đôi, tám bậc cá nhân. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay chào, và là ruộng phước tối cao cho thế gian.'

giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, mang tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến định. Đây là bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có.

Và pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ là gì? Một thánh đệ tử cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; khi cái này không có, cái kia không có. Do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt. Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.' Đây là pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: 'Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.'"

SN 12.42 Nguy Hiểm và Đe Dọa (thứ 2) Dutiyapañcaverabhayasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: 'Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.'

Năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan là gì? Giết hại chúng sanh ... trộm cắp ... hành vi tà dâm ... nói dối ... tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say ... Đây là năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan.

Bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc vào Đức Phật ... giáo pháp ... Tăng đoàn ... và giới đức của họ được các bậc thánh yêu mến. Đây là bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có.

Và pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ là gì? Một thánh đệ tử cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi ... Đây là pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: 'Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.'"

SN 12.43 Khổ Dukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về nguồn gốc và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và, này các Tỷ kheo, nguồn gốc của khổ là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. ... Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. ... Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ.

Và sự chấm dứt của khổ là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. ... Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. ... Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ."

SN 12.44 Thế Giới Lokasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về nguồn gốc và sự chấm dứt của thế giới. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và, này các Tỷ kheo, nguồn gốc của thế giới là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đây là nguồn gốc của thế giới.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. ... Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. ... Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. ... Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đây là nguồn gốc của thế giới.

Và sự chấm dứt của thế giới là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế giới.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. ... Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. ... Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế giới."

SN 12.45 Tại Ñātika Ñātikasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Rồi trong khi Đức Phật đang nhập thất riêng, Ngài đã nói bài giảng pháp này:

"Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. ... Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. ... Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. ... Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo đang đứng nghe lén Đức Phật. Đức Phật thấy ông và nói: "Này Tỷ kheo, ngươi có nghe bài giảng pháp đó không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Hãy học bài giảng pháp đó, ghi nhớ nó, và nhớ kỹ nó. Bài giảng pháp đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh."

SN 12.46 Một Vị Bà-la-môn Aññatarabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một vị bà-la-môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, người làm nghiệp có phải là người chịu quả báo không?"

"'Người làm nghiệp là người chịu quả báo': đây là một cực đoan, này bà-la-môn."

"Vậy một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo phải không?"

"'Một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo': đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, vị bà-la-môn thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời."

SN 12.47 Jānussoṇi Jāṇussoṇisutta

Tại Xá-vệ.

Rồi bà-la-môn Jānussoṇi đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Ngồi xuống một bên, ông thưa với Đức Phật:

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, tất cả đều tồn tại phải không?"

"'Tất cả đều tồn tại': đây là một cực đoan, này bà-la-môn."

"Vậy tất cả đều không tồn tại phải không?"

"'Tất cả đều không tồn tại': đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, bà-la-môn Jānussoṇi thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời."

SN 12.48 Một Nhà Vũ Trụ Học Lokāyatikasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một bà-la-môn nhà vũ trụ học đến gặp Đức Phật ... Ngồi xuống một bên, ông thưa với Đức Phật:

"Thưa Tôn giả Cồ-đàm, tất cả đều tồn tại phải không?"

"'Tất cả đều tồn tại': đây là vũ trụ quan cổ xưa nhất, này bà-la-môn."

"Vậy tất cả đều không tồn tại phải không?"

"'Tất cả đều không tồn tại': đây là vũ trụ quan thứ hai.

"Vậy, tất cả là một thể thống nhất phải không?"

"'Tất cả là một thể thống nhất': đây là vũ trụ quan thứ ba.

"Vậy tất cả là một thể đa nguyên phải không?"

"'Tất cả là một thể đa nguyên': đây là vũ trụ quan thứ tư.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, bà-la-môn nhà vũ trụ học thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời."

SN 12.49 Một Thánh Đệ Tử Ariyasāvakasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: 'Khi cái gì tồn tại, cái gì có? Do sự sinh khởi của cái gì, cái gì sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì danh sắc sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì lục nhập ... xúc ... thọ ... ái ... thủ ... hữu ... sinh ... lão tử sinh khởi?'

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi hành tồn tại, thức sinh khởi. Khi thức tồn tại, danh sắc sinh khởi. Khi danh sắc tồn tại, lục nhập sinh khởi. Khi lục nhập tồn tại, xúc sinh khởi. Khi xúc tồn tại, thọ sinh khởi. Khi thọ tồn tại, ái sinh khởi. Khi ái tồn tại, thủ sinh khởi. Khi thủ tồn tại, hữu sinh khởi. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi.' Họ hiểu: 'Đây là nguồn gốc của thế giới.'

Một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: 'Khi cái gì không tồn tại, cái gì không có? Do sự đoạn diệt của cái gì, cái gì diệt? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì danh sắc không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì lục nhập ... xúc ... thọ ... ái ... thủ ... hữu ... sinh ... lão tử không sinh khởi?'

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: 'Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi. Khi hành không tồn tại, thức không sinh khởi. Khi thức không tồn tại, danh sắc không sinh khởi. Khi danh sắc không tồn tại, lục nhập không sinh khởi. ... hữu không sinh khởi ... sinh không sinh khởi ... Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.' Họ hiểu: 'Đây là sự đoạn diệt của thế giới.'

Một thánh đệ tử hiểu được thế giới, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng gõ cửa đến sự bất tử'."

SN 12.50 Một Thánh Đệ Tử (thứ 2) Dutiyaariyasāvakasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: 'Khi cái gì tồn tại, cái gì có? Do sự sinh khởi của cái gì, cái gì sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì hành sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì thức sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì danh sắc ... lục nhập ... xúc ... thọ ... ái ... thủ ... hữu ... sinh ... lão tử sinh khởi?'

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi hành tồn tại, thức sinh khởi. Khi thức tồn tại, danh sắc sinh khởi. Khi danh sắc tồn tại, lục nhập sinh khởi. Khi lục nhập tồn tại, xúc sinh khởi. Khi xúc tồn tại, thọ sinh khởi. Khi thọ tồn tại, ái sinh khởi. Khi ái tồn tại, thủ sinh khởi. Khi thủ tồn tại, hữu sinh khởi. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi.' Họ hiểu: 'Đây là nguồn gốc của thế giới.'

Một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: 'Khi cái gì không tồn tại, cái gì không có? Do sự đoạn diệt của cái gì, cái gì diệt? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì thức không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì danh sắc ... lục nhập ... xúc ... thọ ... ái ... thủ ... hữu ... sinh ... lão tử không sinh khởi?'

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: 'Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi. Khi hành không tồn tại, thức không sinh khởi. Khi thức không tồn tại, danh sắc không sinh khởi. Khi danh sắc không tồn tại, lục nhập không sinh khởi. ... Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.' Họ hiểu: 'Đây là sự đoạn diệt của thế giới.'

Một thánh đệ tử hiểu được thế giới, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là 'người thành tựu về kiến', 'người thành tựu về thị kiến', 'người đã đến với chánh pháp', 'người thấy được chánh pháp này', 'người có tri kiến của bậc hữu học', 'người đã nhập vào dòng thánh', 'bậc thánh có trí tuệ thâm nhập', và cũng là 'người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử'."

Chương về Khổ

SN 12.51 Một Cuộc Điều Tra Parivīmaṁsanasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo!"

"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo đang điều tra, các ngươi định nghĩa như thế nào khi họ đang điều tra để chấm dứt hoàn toàn khổ đau?"

"Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."

"Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, hãy lấy một Tỷ kheo đang điều tra: 'Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của khổ đau này là gì? Khi cái gì tồn tại thì lão tử sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì lão tử không sinh khởi?' Trong khi điều tra, họ hiểu: 'Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc của khổ đau này là sinh. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi. Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.'

Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt lão tử.

Rồi họ điều tra thêm: 'Nhưng nguồn gốc của sinh này là gì? Khi cái gì tồn tại thì sinh sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì sinh không sinh khởi?' Trong khi điều tra, họ hiểu: 'Hữu là nguồn gốc của sinh. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi hữu không tồn tại, sinh không sinh khởi.'

Họ hiểu về sinh, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt sinh.

Rồi họ điều tra thêm: 'Nhưng nguồn gốc của hữu này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của thủ này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của ái này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của thọ này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của xúc này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của lục nhập này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của danh sắc này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của thức này là gì? ...' ... 'Nhưng nguồn gốc của các hành này là gì? Khi cái gì tồn tại thì hành sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi?' Trong khi điều tra, họ hiểu: 'Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi.'

Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt hành.

Nếu một cá nhân vô minh tạo ra một hành thiện, thức của họ sẽ đi vào một cõi thiện. Nếu họ tạo ra một hành ác, thức của họ sẽ đi vào một cõi ác. Nếu họ tạo ra một hành bất động, thức của họ sẽ đi vào một cõi bất động. Khi một Tỷ kheo đã từ bỏ vô minh và phát sinh trí tuệ, họ không tạo ra hành thiện, hành ác, hay hành bất động. Không lựa chọn hay chủ ý, họ không chấp thủ vào bất cứ điều gì trên thế gian. Không chấp thủ, họ không lo lắng. Không lo lắng, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'

Nếu họ cảm thấy một cảm thọ dễ chịu, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ đau đớn, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ trung tính, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ dễ chịu, họ cảm nhận nó một cách tách rời. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ đau đớn, họ cảm nhận nó một cách tách rời. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ trung tính, họ cảm nhận nó một cách tách rời.

Cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần, họ hiểu: 'Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần.' Cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần, họ hiểu: 'Tôi cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần.' Họ hiểu: 'Khi thân tôi tan rã và mạng sống của tôi đã kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, vì tôi không còn vui thích trong đó nữa, sẽ trở nên nguội lạnh ngay tại đây. Chỉ còn lại di hài.'

Giả sử một người lấy một cái nồi đất nóng ra khỏi lò của thợ gốm và đặt nó xuống đất bằng phẳng. Hơi nóng của nó sẽ tan biến ngay tại đó, và những mảnh vỡ sẽ còn lại.

Cũng vậy, cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần, họ hiểu: 'Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần.' Cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần, họ hiểu: 'Tôi cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần.' Họ hiểu: 'Khi thân tôi tan rã và mạng sống của tôi đã kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, vì tôi không còn vui thích trong đó nữa, sẽ trở nên nguội lạnh ngay tại đây. Chỉ còn lại di hài.'

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Một Tỷ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có còn tạo ra hành thiện, hành ác, hay hành bất động không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có hành nào cả, với sự đoạn diệt của hành, thức có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có thức nào cả, danh sắc có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có danh sắc nào cả, lục nhập có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có lục nhập nào cả, xúc có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có xúc nào cả, thọ có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có thọ nào cả, ái có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có ái nào cả, thủ có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có thủ nào cả, hữu có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có hữu nào cả, sinh có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Và khi không có sinh nào cả, lão tử có còn được tìm thấy không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, này các Tỷ kheo! Đúng là như vậy, không khác. Hãy tin Ta về điều này, này các Tỷ kheo; hãy tin chắc. Đừng có nghi ngờ hay bất định trong vấn đề này. Chỉ có điều này là sự chấm dứt của khổ."

SN 12.52 Chấp Thủ Upādānasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một khối lửa lớn đang cháy với mười, hai mươi, ba mươi, hoặc bốn mươi gánh củi. Và thỉnh thoảng có người ném vào cỏ khô, phân bò, hoặc củi. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, đống lửa sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một khối lửa lớn đang cháy với mười, hai mươi, ba mươi, hoặc bốn mươi gánh củi. Và không ai thỉnh thoảng ném vào cỏ khô, phân bò, hoặc củi. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, khối lửa lớn sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.53 Các Kiết Sử Saṁyojanasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc tâm). Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và thỉnh thoảng có người đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, ngọn đèn dầu sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và không ai thỉnh thoảng đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, ngọn đèn dầu sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.54 Các Kiết Sử (thứ 2) Dutiyasaṁyojanasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và thỉnh thoảng có người đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, ngọn đèn dầu sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và không ai thỉnh thoảng đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, ngọn đèn dầu sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.55 Một Cây Lớn Mahārukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào nó lên, và nhổ rễ ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Họ sẽ chặt cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.56 Một Cây Lớn (thứ 2) Dutiyamahārukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào chúng lên, và nhổ chúng ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Họ sẽ chặt cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.57 Một Cây Non Taruṇarukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây non. Và thỉnh thoảng có người dọn dẹp xung quanh rễ, cung cấp đất, và tưới nước cho nó. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây non sẽ lớn lên, tăng trưởng, và trưởng thành.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây non. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. ... Họ sẽ chặt cây non ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây non bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.58 Danh và Sắc Nāmarūpasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, danh sắc được hình thành. ...

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. ... Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.59 Thức Viññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, thức được hình thành.

Thức là điều kiện cho danh sắc. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. ...

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, thức được hình thành. ...

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, thức không được hình thành. Khi thức diệt, danh sắc diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. ... Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, thức không được hình thành. Khi thức diệt, danh sắc diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

SN 12.60 Các Nguồn Gốc Nidānasutta

Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kuru, gần thị trấn Kammāsadamma của người Kuru. Rồi Tôn giả A-nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Đức Phật:

"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn! Thật đáng kinh ngạc, duyên khởi này thật sâu sắc và có vẻ sâu sắc, nhưng đối với con nó lại có vẻ rõ ràng như ban ngày."

"Không phải vậy, A-nan! Không phải vậy, A-nan! Duyên khởi này sâu sắc và có vẻ sâu sắc. Chính vì không hiểu và không thâm nhập được giáo pháp này mà chúng sanh này đã trở nên rối như tơ, vón như một cuộn chỉ, và rối như cỏ lau và sậy, và nó không thoát khỏi các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp, và sự luân hồi.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào chúng lên, và nhổ chúng ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Rồi họ sẽ chẻ cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Chương Lớn

SN 12.61 Người Không Học Assutavāsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. ...

"Này các Tỷ kheo, khi nói đến thân này được tạo thành từ tứ đại, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tích tụ và tan rã, được tiếp nhận và đặt xuống. Đó là lý do tại sao, khi nói đến thân này, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng khi nói đến cái được gọi là 'tâm', cũng là 'ý', cũng là 'thức', một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, hoặc được giải thoát. Tại sao vậy? Bởi vì trong một thời gian dài, họ đã dính mắc vào nó, coi nó là của mình, và lầm tưởng nó: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.' Đó là lý do tại sao, khi nói đến tâm này, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng một người phàm phu không được học hỏi thà coi thân này được tạo thành từ tứ đại là tự ngã của mình, còn hơn là tâm. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tồn tại trong một năm, hoặc hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hoặc một trăm năm, hoặc thậm chí lâu hơn.

Nhưng cái được gọi là 'tâm', cũng là 'ý', cũng là 'thức' sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm. Giống như một con khỉ di chuyển trong rừng. Nó nắm lấy một cành cây, buông nó ra, và nắm lấy một cành khác; rồi nó buông cành đó ra và nắm lấy một cành khác nữa. Cũng vậy, cái được gọi là 'tâm', cũng là 'ý', cũng là 'thức' sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm.

Trong trường hợp này, một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'"

SN 12.62 Người Không Học (thứ 2) Dutiyaassutavāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, khi nói đến thân này được tạo thành từ tứ đại, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tích tụ và tan rã, được tiếp nhận và đặt xuống. Đó là lý do tại sao, khi nói đến thân này, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Nhưng khi nói đến cái được gọi là 'tâm', cũng là 'ý', cũng là 'thức', một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, hoặc được giải thoát. Tại sao vậy? Bởi vì trong một thời gian dài, họ đã dính mắc vào nó, coi nó là của mình, và lầm tưởng nó: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.' Đó là lý do tại sao, khi nói đến tâm này, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng một người phàm phu không được học hỏi thà coi thân này được tạo thành từ tứ đại là tự ngã của mình, còn hơn là tâm. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tồn tại trong một năm, hoặc hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hoặc một trăm năm, hoặc thậm chí lâu hơn. Nhưng cái được gọi là 'tâm', cũng là 'ý', cũng là 'thức' sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm.

Trong trường hợp này, một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Khổ thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là đau đớn đó, khổ thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Bất khổ bất lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bất khổ bất lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại.

Khi bạn cọ hai que củi vào nhau, nhiệt được tạo ra và lửa được sinh ra. Nhưng khi bạn tách hai que củi ra và đặt chúng sang một bên, bất kỳ nhiệt tương ứng nào cũng sẽ diệt và dừng lại. Cũng vậy, lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Khổ thọ ... Bất khổ bất lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bất khổ bất lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại.

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'"

SN 12.63 Thịt Con Puttamaṁsasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Và các ngươi nên xem đoàn thực như thế nào? Giả sử một cặp vợ chồng lên đường vượt sa mạc, mang theo lương thực hạn chế. Họ có một đứa con duy nhất, thân yêu và quý mến. Khi cặp vợ chồng đang vượt sa mạc, lượng lương thực hạn chế của họ sẽ cạn kiệt, và họ vẫn còn phần còn lại của sa mạc phải vượt qua. Rồi cặp vợ chồng đó sẽ khởi lên ý nghĩ: 'Lượng lương thực hạn chế của chúng ta đã cạn kiệt, và chúng ta vẫn còn phần còn lại của sa mạc phải vượt qua. Tại sao chúng ta không giết đứa con duy nhất của mình, đứa con thân yêu và quý mến, và chuẩn bị thịt khô và tẩm gia vị? Rồi chúng ta có thể vượt qua sa mạc bằng cách ăn thịt con mình. Đừng để cả ba cùng chết.' Rồi cặp vợ chồng đó sẽ giết đứa con duy nhất của mình, đứa con thân yêu và quý mến, và chuẩn bị thịt khô và tẩm gia vị. Họ sẽ vượt qua sa mạc bằng cách ăn thịt con mình. Và khi họ ăn thịt con mình, họ sẽ đấm ngực và khóc: 'Con ơi, đứa con duy nhất của cha mẹ, con ở đâu? Con ơi, đứa con duy nhất của cha mẹ, con ở đâu?'

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Họ có ăn thức ăn đó để vui chơi, hưởng thụ, trang điểm, hay trang trí không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Họ có ăn thức ăn đó chỉ để có thể vượt qua sa mạc không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem đoàn thực. Khi đoàn thực được hiểu hoàn toàn, ham muốn đối với năm loại kích thích giác quan được hiểu hoàn toàn. Khi ham muốn đối với năm loại kích thích giác quan được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không bị trói buộc bởi bất kỳ kiết sử nào có thể khiến họ trở lại thế giới này.

Và các ngươi nên xem xúc thực như thế nào? Giả sử có một con bò bị lột da. Nếu nó đứng cạnh một bức tường, những sinh vật trên tường sẽ cắn nó. Nếu nó đứng dưới một cái cây, những sinh vật trên cây sẽ cắn nó. Nếu nó đứng trong nước, những sinh vật trong nước sẽ cắn nó. Nếu nó đứng ngoài trời, những sinh vật ngoài trời sẽ cắn nó. Bất cứ nơi nào con bò bị lột da đó đứng, những sinh vật ở đó sẽ cắn nó. Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem xúc thực. Khi xúc thực được hiểu hoàn toàn, ba cảm thọ được hiểu hoàn toàn. Khi ba cảm thọ được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy.

Và các ngươi nên xem ý tư niệm thực như thế nào? Giả sử có một hố than hồng sâu hơn chiều cao của một người, chứa đầy than hồng không có lửa cũng không có khói. Rồi một người muốn sống và không muốn chết, muốn hạnh phúc và ghê sợ đau khổ, đi đến. Hai người đàn ông khỏe mạnh sẽ nắm lấy tay anh ta và kéo anh ta về phía hố than hồng. Rồi ý định, mục đích, và mong muốn của người đó sẽ là đi thật xa. Tại sao vậy? Bởi vì người đó sẽ nghĩ: 'Nếu tôi rơi vào hố than hồng đó, điều đó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người của tôi.' Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem ý tư niệm thực. Khi ý tư niệm thực được hiểu hoàn toàn, ba loại ái được hiểu hoàn toàn. Khi ba loại ái được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy.

Và các ngươi nên xem thức thực như thế nào? Giả sử họ bắt một tên cướp, một tên tội phạm và trình diện hắn trước nhà vua, nói rằng: 'Tâu Bệ hạ, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Xin hãy trừng phạt hắn theo ý Bệ hạ.' Nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào buổi sáng bằng một trăm ngọn giáo!' Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn. Rồi vào giữa trưa, nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, người đó thế nào rồi?' 'Hắn vẫn còn sống, tâu Bệ hạ.' Nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào giữa ngày bằng một trăm ngọn giáo!' Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn. Rồi vào cuối buổi chiều, nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, người đó thế nào rồi?' 'Hắn vẫn còn sống, tâu Bệ hạ.' Nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào cuối buổi chiều bằng một trăm ngọn giáo!' Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn.

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Người đàn ông đó có trải qua đau đớn và khổ sở vì bị đánh bằng ba trăm ngọn giáo một ngày không?"

"Bạch Thế Tôn, người đàn ông đó sẽ trải qua đau đớn và khổ sở vì bị đánh bằng một ngọn giáo, huống chi là ba trăm ngọn giáo!"

"Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem thức thực. Khi thức thực được hiểu hoàn toàn, danh sắc được hiểu hoàn toàn. Khi danh sắc được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy."

SN 12.64 Nếu Có Ham Muốn Atthirāgasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực ... Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực ... Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Giả sử một họa sĩ hoặc một người vẽ có một ít thuốc nhuộm, sơn mài đỏ, nghệ, chàm, hoặc hoa hồng điên. Và trên một tấm ván được đánh bóng hoặc một bức tường hoặc một tấm vải, họ sẽ tạo ra hình dạng của một người phụ nữ hoặc một người đàn ông, hoàn chỉnh với các chi chính và phụ.

Cũng vậy, nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực ... Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực ... Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não.

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực ... Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực ... Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não.

Giả sử có một ngôi nhà gỗ hoặc một hội trường có mái nhọn, với cửa sổ ở phía bắc, phía nam, hoặc phía đông. Khi mặt trời mọc và một tia sáng đi vào qua cửa sổ, nó sẽ chiếu vào đâu?"

"Vào bức tường phía tây, bạch Thế Tôn."

"Nếu không có bức tường phía tây, nó sẽ chiếu vào đâu?"

"Xuống đất, bạch Thế Tôn."

"Nếu không có đất, nó sẽ chiếu vào đâu?"

"Vào nước, bạch Thế Tôn."

"Nếu không có nước, nó sẽ chiếu vào đâu?"

"Nó sẽ không chiếu vào đâu cả, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. ...

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực ... Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực ... Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não."

SN 12.65 Thành Phố Nagarasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, trước khi giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ—Ta đã suy nghĩ: 'Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?' Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có sinh? ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... Cái gì là điều kiện cho danh sắc?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thức tồn tại thì có danh sắc. Thức là điều kiện cho danh sắc.' Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có thức? Cái gì là điều kiện cho thức?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc tồn tại thì có thức. Danh sắc là điều kiện cho thức.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: Thức này quay trở lại từ danh sắc, và không đi xa hơn thế. Đây là mức độ mà một người có thể được tái sinh, già đi, chết đi, qua đời, hoặc tái hiện. Đó là: danh sắc là điều kiện cho thức. Thức là điều kiện cho danh sắc. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. 'Sanh khởi, sanh khởi.' Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.' Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc? Khi cái gì diệt thì danh sắc diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi thức không tồn tại thì không có danh sắc. Khi thức diệt, danh sắc diệt.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có thức? Khi cái gì diệt thì thức diệt?' Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: 'Khi danh sắc không tồn tại, không có thức. Khi danh sắc diệt, thức diệt.'

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: Ta đã khám phá ra con đường đến giác ngộ. Đó là: Khi danh sắc diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. 'Đoạn diệt, đoạn diệt.' Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Giả sử một người đang đi trong rừng. Họ sẽ thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà con người đã đi qua trong quá khứ. Đi theo nó, họ sẽ thấy một thành phố cổ, một kinh đô cổ, nơi con người đã sinh sống trong quá khứ. Nó thật đáng yêu, hoàn chỉnh với công viên, lùm cây, ao sen, và bờ kè. Rồi người đó sẽ thông báo cho một vị vua hoặc vị tể tướng của họ: 'Thưa ngài, ngài nên biết điều này. Khi đi trong rừng, tôi đã thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà con người đã đi qua trong quá khứ. Đi theo nó, tôi đã thấy một thành phố cổ, một kinh đô cổ, nơi con người đã sinh sống trong quá khứ. Nó thật đáng yêu, hoàn chỉnh với công viên, lùm cây, ao sen, và bờ kè. Thưa ngài, ngài nên xây dựng lại thành phố đó!' Rồi vị vua hoặc vị tể tướng đó sẽ cho xây dựng lại thành phố đó. Và sau một thời gian, thành phố đó đã thành công và thịnh vượng, đông dân, đầy người, đạt được sự tăng trưởng và mở rộng. Cũng vậy, Ta đã thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ.

Và con đường cổ đó, con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường cổ đó, con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ.

Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Sau khi đã trực tiếp biết điều này, Ta đã nói với các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Và đó là cách đời sống phạm hạnh này đã trở nên thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rõ ràng ở bất cứ nơi nào có trời và người."

SN 12.66 Tự Vấn Sammasasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kuru, gần thị trấn Kammāsadamma của người Kuru. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo!"

"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, các ngươi có thực hiện việc tự vấn nội tâm không?"

Khi Ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con có thực hiện việc tự vấn nội tâm."

"Nhưng này Tỷ kheo, ngươi thực hiện việc tự vấn nội tâm như thế nào?" Rồi vị Tỷ kheo đó trả lời, nhưng Đức Phật không hài lòng với câu trả lời.

Khi ông đã nói xong, Tôn giả A-nan thưa với Đức Phật: "Bây giờ là lúc, bạch Thế Tôn! Bây giờ là lúc, Bậc Thánh! Xin Đức Phật hãy nói về việc tự vấn nội tâm. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."

"Vậy thì, A-nan, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Hãy lấy một Tỷ kheo thực hiện việc tự vấn nội tâm: 'Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nhưng nguồn gốc của khổ đau này là gì? Khi cái gì tồn tại thì lão tử sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì lão tử không sinh khởi?' Trong khi xem xét, họ biết: 'Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc của khổ đau này là sự dính mắc. Khi sự dính mắc tồn tại, lão tử sinh khởi. Và khi sự dính mắc không tồn tại, lão tử không sinh khởi.' Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt lão tử.

Họ thực hiện việc tự vấn nội tâm thêm: 'Nhưng nguồn gốc của sự dính mắc này là gì? Khi cái gì tồn tại thì sự dính mắc sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì sự dính mắc không sinh khởi?' Trong khi xem xét, họ biết: 'Nguồn gốc của sự dính mắc này là ái. Khi ái tồn tại, sự dính mắc sinh khởi. Và khi ái không tồn tại, sự dính mắc không sinh khởi.' Họ hiểu về sự dính mắc, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt sự dính mắc.

Họ thực hiện việc tự vấn nội tâm thêm: 'Nhưng ái đó khởi sinh ở đâu và lắng đọng ở đâu?' Trong khi xem xét, họ biết: 'Ái đó khởi sinh và lắng đọng trên bất cứ điều gì trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu. Và cái gì trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu? Mắt trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu, và chính ở đó ái khởi sinh và lắng đọng. Tai ... mũi ... lưỡi ... thân ... ý trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu, và chính ở đó ái khởi sinh và lắng đọng.'

Có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai sẽ thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ sẽ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ sẽ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ sẽ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ sẽ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ sẽ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Giả sử có một cốc đồng đựng đồ uống có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Rồi một người đàn ông đang vật lộn trong cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô, và khô héo đi đến. Họ sẽ nói với anh ta: 'Này người đáng kính, cốc đồng đựng đồ uống này có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Hãy uống nếu ông muốn. Nếu ông uống, màu sắc, mùi thơm, và hương vị sẽ hấp dẫn, nhưng nó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.' Anh ta sẽ không từ chối đồ uống đó. Vội vàng, không suy nghĩ, anh ta sẽ uống nó, dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.

Cũng vậy, có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ ... tương lai ... Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ đã từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ đã từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ đã được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ đã được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai sẽ thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ sẽ từ bỏ ái. Từ bỏ ái ... họ sẽ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Giả sử có một cốc đồng đựng đồ uống có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Rồi một người đàn ông đang vật lộn trong cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô, và khô héo đi đến. Họ sẽ nói với anh ta: 'Này người đáng kính, cốc đồng đựng đồ uống này có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Hãy uống nếu ông muốn. Nếu ông uống, màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp của nó sẽ làm ông sảng khoái. Nhưng uống nó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.' Rồi người đàn ông đó có thể nghĩ: 'Tôi có thể giải khát bằng nước, sữa chua, đồ uống có gia vị, hoặc nước dùng. Nhưng tôi không nên uống đồ uống đó, vì nó sẽ gây hại và đau khổ lâu dài cho tôi.' Anh ta sẽ từ chối đồ uống đó. Sau khi thẩm định, anh ta sẽ không uống nó, và nó sẽ không dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.

Cũng vậy, có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ đã từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ đã từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ đã được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ đã được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai ... Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

SN 12.67 Bó Sậy Naḷakalāpīsutta

Một thời Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Đại-ca-chiên-diên đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana.

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Đại-ca-chiên-diên ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Xá-lợi-phất:

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, lão tử là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?"

"Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, lão tử không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, sinh là điều kiện cho lão tử."

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy sinh là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?"

"Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, sinh không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, hữu là điều kiện cho sinh."

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy hữu là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Thủ là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Ái là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Thọ là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Xúc là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Lục nhập là do tự mình làm ra phải không? ..." ... "Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy danh sắc là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?"

"Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, danh sắc không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, thức là điều kiện cho danh sắc."

"Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy thức là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?"

"Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, thức không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, danh sắc là điều kiện cho thức."

"Vừa rồi tôi hiểu ngài nói: 'Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, danh sắc không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, thức là điều kiện cho danh sắc.'

Nhưng tôi cũng hiểu ngài nói: 'Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, thức không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, danh sắc là điều kiện cho thức.'

Vậy chúng ta nên hiểu ý nghĩa của câu nói này như thế nào?"

"Vậy thì, thưa Tôn giả, tôi sẽ cho ngài một ví dụ. Vì nhờ ví dụ mà một số người trí hiểu được ý nghĩa của những gì được nói. Ví như có hai bó sậy dựa vào nhau mà đứng.

Cũng vậy, danh sắc là điều kiện cho thức sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc sinh khởi. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Nếu kéo một trong hai bó sậy đó ra, bó kia sẽ ngã. Và nếu kéo bó kia ra, bó đầu tiên sẽ ngã.

Cũng vậy, khi danh sắc diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. ... Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

"Thật không thể tin được, Tôn giả Xá-lợi-phất, thật đáng kinh ngạc! Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói điều này thật hay! Và chúng tôi có thể bày tỏ sự đồng ý với lời tuyên bố của Tôn giả Xá-lợi-phất trên ba mươi sáu cơ sở này.

Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp'. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp'. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này'. Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly đối với sinh ... hữu ... thủ ... ái ... thọ ... xúc ... lục nhập ... danh sắc ... thức ... hành ... Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp'. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp'. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là 'Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này'."

SN 12.68 Tại Kosambī Kosambisutta

Một thời các tôn giả Musīla, Saviṭṭha, Nārada, và A-nan đang ở gần Kosambī trong tu viện của Ghosita. Rồi Tôn giả Saviṭṭha nói với Tôn giả Musīla:

"Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sinh là điều kiện cho lão tử không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sinh là điều kiện cho lão tử."

"Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng hữu là điều kiện cho sinh ... thủ là điều kiện cho hữu ... ái là điều kiện cho thủ ... thọ là điều kiện cho ái ... xúc là điều kiện cho thọ ... lục nhập là điều kiện cho xúc ... danh sắc là điều kiện cho lục nhập ... thức là điều kiện cho danh sắc ... hành là điều kiện cho thức ... vô minh là điều kiện cho hành không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng vô minh là điều kiện cho hành."

"Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng khi sinh diệt, lão tử diệt không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng khi sinh diệt, lão tử diệt."

"Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng khi hữu diệt, sinh diệt ... khi thủ diệt, hữu diệt ... khi ái diệt, thủ diệt ... khi thọ diệt, ái diệt ... khi xúc diệt, thọ diệt ... khi lục nhập diệt, xúc diệt ... khi danh sắc diệt, lục nhập diệt ... khi thức diệt, danh sắc diệt ... khi hành diệt, thức diệt ... khi vô minh diệt, hành diệt không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng khi vô minh diệt, hành diệt."

"Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn."

"Vậy Tôn giả Musīla là một bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc." Khi ông nói điều này, Musīla giữ im lặng.

Rồi Tôn giả Nārada nói với Tôn giả Saviṭṭha: "Thưa Tôn giả Saviṭṭha, xin hãy để tôi trả lời những câu hỏi này. Hãy hỏi tôi và tôi sẽ trả lời chúng cho ngài."

"Chắc chắn rồi, Tôn giả Nārada, hãy thử những câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi ngài và ngài có thể trả lời chúng cho tôi."

(Saviṭṭha lặp lại chính xác loạt câu hỏi tương tự, và Nārada trả lời giống như Musīla đã làm.)

"Thưa Tôn giả Nārada, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn không?"

"Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn."

"Vậy Tôn giả Nārada là một bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc."

"Tôi đã thực sự thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn. Tuy nhiên tôi không phải là một bậc A-la-hán. Ví như có một cái giếng bên con đường sa mạc mà không có dây hay gàu. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô. Người ấy biết rằng có nước, nhưng không thể chạm vào nó bằng thân.

Cũng vậy, tôi đã thực sự thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn. Tuy nhiên tôi không phải là một bậc A-la-hán."

Khi ông nói điều này, Tôn giả A-nan nói với Tôn giả Saviṭṭha: "Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngài có gì để nói với Tôn giả Nārada khi ông ấy nói như vậy không?"

"Thưa Tôn giả A-nan, tôi không có gì để nói với Tôn giả Nārada khi ông ấy nói như vậy, ngoại trừ những điều tốt đẹp và lành mạnh."

SN 12.69 Dâng Trào Upayantisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc.

"Này các Tỷ kheo, khi đại dương dâng trào, nó làm cho các con sông dâng trào. Khi các con sông dâng trào, chúng làm cho các dòng suối dâng trào. Khi các dòng suối dâng trào, chúng làm cho các hồ dâng trào. Khi các hồ dâng trào, chúng làm cho các ao dâng trào.

Cũng vậy, khi vô minh dâng trào, nó làm cho hành dâng trào. Khi hành dâng trào, chúng làm cho thức dâng trào. Khi thức dâng trào, nó làm cho danh sắc dâng trào. Khi danh sắc dâng trào, chúng làm cho lục nhập dâng trào. Khi lục nhập dâng trào, chúng làm cho xúc dâng trào. Khi xúc dâng trào, nó làm cho thọ dâng trào. Khi thọ dâng trào, nó làm cho ái dâng trào. Khi ái dâng trào, nó làm cho thủ dâng trào. Khi thủ dâng trào, nó làm cho hữu dâng trào. Khi hữu dâng trào, nó làm cho sinh dâng trào. Khi sinh dâng trào, nó làm cho lão tử dâng trào.

Khi đại dương rút xuống, nó làm cho các con sông rút xuống. Khi các con sông rút xuống, chúng làm cho các dòng suối rút xuống. Khi các dòng suối rút xuống, chúng làm cho các hồ rút xuống. Khi các hồ rút xuống, chúng làm cho các ao rút xuống.

Cũng vậy, khi vô minh rút xuống, nó làm cho hành rút xuống. Khi hành rút xuống, chúng làm cho thức rút xuống. Khi thức rút xuống, nó làm cho danh sắc rút xuống. Khi danh sắc rút xuống, chúng làm cho lục nhập rút xuống. Khi lục nhập rút xuống, chúng làm cho xúc rút xuống. Khi xúc rút xuống, nó làm cho thọ rút xuống. Khi thọ rút xuống, nó làm cho ái rút xuống. Khi ái rút xuống, nó làm cho thủ rút xuống. Khi thủ rút xuống, nó làm cho hữu rút xuống. Khi hữu rút xuống, nó làm cho sinh rút xuống. Khi sinh rút xuống, nó làm cho lão tử rút xuống."

SN 12.70 Du Sĩ Susīma Susimaparibbājakasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, Đức Phật được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và Ngài nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Và Tăng đoàn Tỷ kheo cũng được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và họ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Nhưng các du sĩ theo các tôn giáo khác không được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và họ không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh.

Lúc bấy giờ, du sĩ Susīma đang cư trú tại Vương-xá cùng với một cộng đồng lớn các du sĩ.

Rồi cộng đồng của ông nói với Susīma: "Thưa Tôn giả Susīma, xin hãy sống đời sống phạm hạnh với sa-môn Cồ-đàm. Hãy ghi nhớ giáo pháp đó và để chúng tôi cùng ngài tụng lại. Khi chúng tôi đã ghi nhớ, chúng tôi sẽ tụng lại cho các cư sĩ. Bằng cách này, chúng tôi cũng sẽ được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và chúng tôi sẽ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh."

"Vâng, thưa các Tôn giả," Susīma đáp. Rồi ông đến gặp Tôn giả A-nan và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với A-nan: "Thưa Tôn giả A-nan, tôi muốn sống đời sống phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này."

Rồi A-nan đưa Susīma đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: "Bạch Thế Tôn, du sĩ Susīma này nói rằng ông ấy muốn sống đời sống phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này."

"Vậy thì, A-nan, hãy cho Susīma xuất gia." Và du sĩ Susīma đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật.

Lúc bấy giờ, một số Tỷ kheo đã tuyên bố giác ngộ trước sự hiện diện của Đức Phật: "Chúng con hiểu rằng: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'"

Tôn giả Susīma nghe về điều này. Ông đến gặp các Tỷ kheo đó và chào hỏi họ. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với các Tỷ kheo đó: "Có thật là các Tôn giả đã tuyên bố giác ngộ trước sự hiện diện của Đức Phật không?"

"Vâng, thưa Tôn giả."

"Nhưng biết và thấy như vậy, các ngài có vận dụng được nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu phàm) không? Tức là, tự nhân bản mình và trở lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn vào và ra khỏi đất như thể đó là nước; đi trên nước như thể đó là đất; bay ngồi chéo chân trên trời như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, những vật thể hùng mạnh và quyền năng như vậy. Các ngài có điều khiển được thân thể cho đến tận cõi trời Phạm thiên không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có, với thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh siêu việt) đã được thanh lọc và siêu phàm, nghe được cả hai loại âm thanh, của con người và của trời, dù gần hay xa không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có hiểu được tâm của các chúng sanh và cá nhân khác, sau khi đã liễu tri chúng bằng tâm của mình không? Các ngài có hiểu tâm có tham là 'tâm có tham', và tâm không có tham là 'tâm không có tham' không? Các ngài có hiểu tâm có sân là 'tâm có sân', và tâm không có sân là 'tâm không có sân' không? Các ngài có hiểu tâm có si là 'tâm có si', và tâm không có si là 'tâm không có si' không? Các ngài có hiểu tâm co rút là 'tâm co rút', và tâm phân tán là 'tâm phân tán' không? Các ngài có hiểu tâm quảng đại là 'tâm quảng đại', và tâm không quảng đại là 'tâm không quảng đại' không? Các ngài có hiểu tâm không phải là tối thượng là 'tâm không phải là tối thượng', và tâm là tối thượng là 'tâm là tối thượng' không? Các ngài có hiểu tâm nhập định là 'tâm nhập định', và tâm không nhập định là 'tâm không nhập định' không? Các ngài có hiểu tâm giải thoát là 'tâm giải thoát', và tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát' không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ không? Tức là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp tái sinh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới mở rộng, nhiều kiếp thế giới co lại và mở rộng? Các ngài có nhớ: 'Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sinh ở đây.' Các ngài có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có, với thiên nhãn thông (clairvoyance / khả năng nhìn thấy các cõi giới khác) đã được thanh lọc và siêu phàm, thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu—và hiểu được các chúng sanh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ không? 'Những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều xấu bằng thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi đọa lạc, nơi xấu, cõi thấp, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều tốt bằng thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi tốt, cõi trời.' Và như vậy, với thiên nhãn thông đã được thanh lọc và siêu phàm, các ngài có thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Và các ngài có hiểu được các chúng sanh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về các giải thoát thanh tịnh là vô sắc, vượt qua sắc không?"

"Không, thưa Tôn giả."

"Vậy thì, thưa các Tôn giả, làm thế nào có thể có một tuyên bố như vậy khi những điều này không được đạt được?"

"Thưa Tôn giả Susīma, chúng tôi được tuệ giải thoát (freed by wisdom / giải thoát nhờ trí tuệ)."

"Tôi không hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì các ngài đã nói ngắn gọn. Xin hãy dạy tôi vấn đề này để tôi có thể hiểu ý nghĩa chi tiết."

"Thưa Tôn giả Susīma, dù ngài có hiểu hay không, chúng tôi được tuệ giải thoát."

Rồi Susīma đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì ông đã thảo luận với các Tỷ kheo đó.

"Này Susīma, trước tiên là tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên. Sau đó là tri kiến về Niết-bàn."

"Bạch Thế Tôn, con không hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ngài đã nói ngắn gọn. Xin hãy dạy con vấn đề này để con có thể hiểu ý nghĩa chi tiết."

"Này Susīma, dù ngươi có hiểu hay không, trước tiên là tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên. Sau đó là tri kiến về Niết-bàn.

Ngươi nghĩ sao, Susīma? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

"Vô thường, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?"

"Khổ, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi'?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Thọ là thường hằng hay vô thường?"

"Vô thường, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?"

"Khổ, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi'?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Tưởng là thường hằng hay vô thường?"

"Vô thường, bạch Thế Tôn." ...

"Hành là thường hằng hay vô thường?"

"Vô thường, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu chúng là vô thường, chúng là khổ hay lạc?"

"Khổ, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu chúng là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi chúng như thế này không: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi'?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Thức là thường hằng hay vô thường?"

"Vô thường, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?"

"Khổ, bạch Thế Tôn."

"Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: 'Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi'?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vì vậy, Susīma, ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả sắc—với chánh trí tuệ: 'Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.' Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại thọ nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả thọ—với chánh trí tuệ: 'Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.' Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại tưởng nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả tưởng—với chánh trí tuệ: 'Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.' Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại hành nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả hành—với chánh trí tuệ: 'Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.' Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả thức—với chánh trí tuệ: 'Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.'

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: 'Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.'

Này Susīma, ngươi có thấy rằng sinh là điều kiện cho lão tử không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng hữu là điều kiện cho sinh không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng thủ là điều kiện cho hữu không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng ái là điều kiện cho thủ không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng thọ là điều kiện cho ái ... xúc là điều kiện cho thọ ... lục nhập là điều kiện cho xúc ... danh sắc là điều kiện cho lục nhập ... thức là điều kiện cho danh sắc ... hành là điều kiện cho thức ... vô minh là điều kiện cho hành không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng khi sinh diệt, lão tử diệt không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng khi hữu diệt, sinh diệt không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Ngươi có thấy rằng khi thủ diệt, hữu diệt ... khi ái diệt, thủ diệt ... khi thọ diệt, ái diệt ... khi xúc diệt, thọ diệt ... khi lục nhập diệt, xúc diệt ... khi danh sắc diệt, lục nhập diệt ... khi thức diệt, danh sắc diệt ... khi hành diệt, thức diệt ... khi vô minh diệt, hành diệt không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Nhưng biết và thấy như vậy, ngươi có vận dụng được nhiều loại thần thông không? ..."

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có, với thiên nhĩ thông đã được thanh lọc và siêu phàm, nghe được cả hai loại âm thanh, của con người và của trời, dù gần hay xa không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có hiểu được tâm của các chúng sanh và cá nhân khác, sau khi đã liễu tri chúng bằng tâm của mình không? ..."

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có, với thiên nhãn thông đã được thanh lọc và siêu phàm, thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh ... theo nghiệp của họ không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về các giải thoát thanh tịnh là vô sắc, vượt qua sắc không?"

"Không, bạch Thế Tôn."

"Vậy thì, Susīma, làm thế nào có thể có một tuyên bố như vậy khi những điều này không được đạt được?"

Rồi Tôn giả Susīma cúi đầu dưới chân Đức Phật và nói: "Con đã phạm lỗi, bạch Thế Tôn. Thật là ngu ngốc, dại dột, và bất thiện khi con đã xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy. Xin Thế Tôn, hãy chấp nhận lỗi lầm của con như nó là, để con sẽ tự kiềm chế trong tương lai."

"Thật vậy, Susīma, ngươi đã phạm lỗi. Thật là ngu ngốc, dại dột, và bất thiện khi ngươi đã xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy. Giả sử họ bắt một tên cướp, một tên tội phạm và trình diện hắn trước nhà vua, nói rằng: 'Tâu Bệ hạ, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Xin hãy trừng phạt hắn theo ý Bệ hạ.' Nhà vua sẽ nói: 'Hỡi các khanh, hãy đi và trói chặt tay người này ra sau lưng bằng một sợi dây chắc. Cạo đầu hắn và diễu hắn từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác trong tiếng trống khắc nghiệt. Rồi đưa hắn ra cổng phía nam và ở đó, phía nam thành phố, chặt đầu hắn.' Các quan của nhà vua sẽ làm theo lời dặn. Ngươi nghĩ sao, Susīma? Người đàn ông đó có trải qua đau đớn và khổ sở vì điều đó không?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Mặc dù người đàn ông đó sẽ trải qua đau đớn và khổ sở vì điều đó, việc xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy có kết quả đau đớn và cay đắng hơn. Và nó thậm chí còn dẫn đến cõi thấp. Nhưng vì ngươi đã nhận ra lỗi lầm của mình như nó là, và đã xử lý nó một cách đúng đắn, Ta chấp nhận nó. Vì đó là sự tăng trưởng trong sự tu tập của Bậc Thánh khi nhận ra một lỗi lầm như nó là, xử lý nó một cách đúng đắn, và cam kết kiềm chế trong tương lai."

Phẩm Sa-môn và Bà-la-môn

SN 12.71 Già và Chết Jarāmaraṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī, tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong rừng Jeta.

"Này các Tỷ kheo, có những Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / tu sĩ và giáo sĩ) không hiểu rõ về già và chết (old age and death / jarāmaraṇa), không hiểu rõ về sự sinh khởi của chúng, sự chấm dứt của chúng, và con đường đưa đến sự chấm dứt của chúng. Ta không xem họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả ấy không nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và không sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình.

Có những Sa-môn và Bà-la-môn hiểu rõ về già và chết, sự sinh khởi của chúng, sự chấm dứt của chúng, và con đường đưa đến sự chấm dứt của chúng. Ta xem họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả ấy nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình."

SN 12.72--81 Mười Kinh về Sanh, v.v. Jātisuttādidasaka

Tại Sāvatthī.

"... họ không hiểu rõ về Sanh (Rebirth / jāti / sự tái sinh) ..."

"... Hữu (continued existence / bhava / sự tồn tại) ..."

"... Thủ (grasping / upādāna / sự bám víu) ..."

"... Ái (craving / taṇhā / sự khao khát) ..."

"... Thọ (feeling / vedanā / cảm giác) ..."

"... Xúc (contact / phassa / sự tiếp xúc) ..."

"... lục nhập (the six sense fields / saḷāyatana / sáu giác quan và đối tượng của chúng) ..."

"... danh và sắc (name and form / nāmarūpa / tâm và vật chất) ..."

"... Thức (consciousness / viññāṇa / sự nhận biết) ..."

"... Hành (choices / saṅkhāra / các hoạt động có chủ ý) ...

... họ hiểu rõ ..."

(lặp lại tương tự)

Bậc Đạo Sư, v.v.

SN 12.82 Bậc Đạo Sư Satthusutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư (The Teacher / vị thầy) để thật sự biết về già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về sự sinh khởi của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về sự sinh khởi của già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về sự chấm dứt của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về sự chấm dứt của già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về con đường đưa đến sự chấm dứt của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về con đường đưa đến sự chấm dứt của già và chết."

(Tất cả các bản kinh rút gọn nên được nói đầy đủ.)

SN 12.83--92 Bậc Đạo Sư (Thứ hai) Dutiyasatthusuttādidasaka

"Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về Sanh ..."

"... Hữu ..."

"... Thủ ..."

"... Ái ..."

"... Thọ ..."

"... Xúc ..."

"... lục nhập ..."

"... danh và sắc ..."

"... Thức ..."

"... Hành ..."

(Tất cả nên được xử lý theo bốn sự thật.)

Mười một Phẩm về Tu tập, v.v.

SN 12.93--213 Mười một Phẩm về Tu tập, v.v. Sikkhāsuttādipeyyālaekādasaka

"Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về già và chết thì nên tu tập (train / rèn luyện) để thật sự biết về già và chết. ..."

"... hành thiền (practice meditation / thực hành thiền định) ..."

"... khởi lên nhiệt thành (enthusiasm / lòng hăng hái) ..."

"... nỗ lực (try vigorously / cố gắng hết sức) mạnh mẽ ..."

"... kiên trì (persevere / bền bỉ) ..."

"... sốt sắng (be keen / hăng hái, nhiệt tình) ..."

"... khởi lên năng lượng (energy / tinh tấn) ..."

"... bền bỉ (persist / kiên định) ..."

"... chánh niệm (be mindful / giữ sự chú tâm đúng đắn) ..."

"... tỉnh giác (use situational awareness / nhận biết rõ ràng hoàn cảnh) ..."

"... cần mẫn (be diligent / siêng năng) ..."