Skip to content

Tương Ưng Chư Tăng

Chương về Chư Tăng

SN 21.1 Kinh Kolita (Với Tôn giả Kolita)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên (Mahāmoggallāna) gọi các Tỷ kheo: "Này các hiền giả, các Tỷ kheo!"

"Thưa hiền giả," họ đáp lời.

Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói điều này:

"Vừa rồi, thưa các hiền giả, khi đang độc cư thiền định, tôi có suy nghĩ thế này: 'Người ta nói về một thứ gọi là "thánh im lặng". Vậy thánh im lặng là gì?'

Tôi nghĩ rằng: 'Khi sự có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / hướng ý nghĩ về một đề tài và giữ sự quan sát đề tài đó) đã được lắng dịu, một Tỷ kheo nhập và an trú vào thiền thứ hai, một trạng thái có hân hoan (rapture / sự hân hoan) và hạnh phúc (bliss / sự hạnh phúc) sinh ra từ định, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ ( without placing the mind and keeping it connected. / không hướng ý nghĩ về đề tài nào và chỉ im lặng để quan sát). Đây được gọi là thánh im lặng (noble silence / sự im lặng của bậc thánh).'

Và thế là, khi sự có tầm có tứ đã lắng dịu, tôi đã nhập và an trú vào thiền thứ hai, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ định, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ.

Trong khi tôi đang ở trong thiền định đó, nhận thức và sự tập trung đi kèm với tầm đã khởi lên làm phiền tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: 'Này Moggallāna, Moggallāna! Đừng sao nhãng sự thánh im lặng, này Bà la môn! Hãy an định tâm con trong sự thánh im lặng; hãy hợp nhất tâm con và đưa nó vào định trong sự thánh im lặng.'

Và thế là, sau một thời gian, khi sự có tầm có tứ đã lắng dịu, tôi đã nhập và an trú vào thiền thứ hai...

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một người đệ tử đã đạt được thắng trí (direct knowledge / sự hiểu biết siêu việt) vĩ đại với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

SN 21.2 Kinh Upatissa (Với Tôn giả Upatissa)

Tại Sāvatthī.

Tại đó, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) gọi các Tỷ kheo: "Này các hiền giả, các Tỷ kheo!"

"Thưa hiền giả," họ đáp lời. Tôn giả Xá Lợi Phất nói điều này:

"Vừa rồi, thưa các hiền giả, khi đang độc cư thiền định, con có suy nghĩ thế này: 'Liệu có điều gì trên thế gian này mà sự tàn hoại và biến mất của nó sẽ làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ta không?' Con nhận ra rằng: 'Không có điều gì trên thế gian này mà sự tàn hoại và biến mất của nó sẽ làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ta.'"

Khi ngài nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với ngài: "Ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất ư? Điều đó sẽ không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong hiền giả sao?"

"Ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất, điều đó cũng sẽ không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong tôi. Tuy nhiên, tôi sẽ nghĩ rằng: 'Than ôi, Bậc Đạo Sư lừng lẫy, thật hùng mạnh và oai đức, đã biến mất! Nếu Đức Phật còn tại thế lâu dài, điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc cho dân chúng, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.'"

"Hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn tùy miên (I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit / sự tạo ra 'cái tôi', 'cái của tôi', và khuynh hướng ngã mạn ngủ ngầm). Vì vậy, ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất, điều đó cũng không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ngài."

SN 21.3 Kinh Đống Muối (Ghaṭasutta)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên đang trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Vào buổi chiều muộn, Tôn giả Xá Lợi Phất ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Mục Kiền Liên và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, Tôn giả Xá Lợi Phất ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Đại Mục Kiền Liên:

"Thưa hiền giả Moggallāna, các căn của hiền giả thật trong sáng, và sắc diện của hiền giả thật thanh tịnh và rạng rỡ. Có phải hiền giả đã trải qua một ngày trong một pháp thiền an tịnh không?"

"Thưa hiền giả, tôi đã trải qua một ngày trong một pháp thiền thô thiển. Nhưng tôi đã có một buổi pháp đàm."

"Hiền giả đã pháp đàm với ai vậy?"

"Với Đức Phật."

"Nhưng thưa hiền giả, Đức Phật đang ở rất xa. Ngài đang trú gần Sāvatthī trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Có phải hiền giả đã đến gặp Ngài bằng thần thông, hay Ngài đã đến gặp hiền giả?"

"Không thưa hiền giả, tôi không đến gặp Ngài bằng thần thông, và Ngài cũng không đến gặp tôi. Thay vào đó, Đức Phật đã hướng thiên nhãn (clairvoyance / con mắt thấy được các cõi khác) và thiên nhĩ (clairaudience / tai nghe được các cõi khác) của Ngài về phía tôi, và tôi cũng hướng thiên nhãn và thiên nhĩ của mình về phía Ngài."

"Nhưng hai vị đã pháp đàm về điều gì?"

"Thưa hiền giả, tôi đã bạch với Đức Phật: 'Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người tinh tấn. Một người tinh tấn được định nghĩa như thế nào?'

Khi tôi nói vậy, Đức Phật dạy: 'Này Moggallāna, đó là khi một Tỷ kheo sống với nghị lực được khơi dậy: "Cứ để da, gân, và xương còn lại! Cứ để thịt và máu trong thân ta khô héo đi! Ta sẽ không ngừng nỗ lực cho đến khi đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, nghị lực, và sự bền bỉ của con người." Đó là cách một người được gọi là tinh tấn.'

Đó là buổi pháp đàm mà tôi đã có với Đức Phật."

"Thưa hiền giả, bên cạnh Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôi chỉ như vài viên sỏi bên cạnh dãy Himalaya, vua của các loài núi. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên thật hùng mạnh và oai đức, nếu muốn, ngài có thể sống trọn vẹn tuổi thọ."

"Thưa hiền giả, bên cạnh Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi chỉ như vài hạt muối bên cạnh một đống muối. Tôn giả Xá Lợi Phất đã được Đức Phật tán thán, khen ngợi và ca tụng:

'Xá Lợi Phất đầy trí tuệ,
giới đức, và an tịnh.
Ngay cả một Tỷ kheo đã vượt qua bờ kia
cũng chỉ có thể sánh bằng ngài mà thôi.'"

Và thế là hai bậc đại long tượng này đã đồng tình với những lời hay ý đẹp của nhau.

SN 21.4 Kinh Vị Tỷ Kheo Trẻ (Navasutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo trẻ, sau bữa ăn, khi đi khất thực về, đã vào trú xứ của mình, nơi vị ấy chỉ giữ sự thụ động và im lặng. Và vị ấy không giúp các Tỷ kheo khác khi đến lúc may y. Sau đó, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

Đức Phật bèn gọi một vị Tỷ kheo: "Này Tỷ kheo, hãy nhân danh ta nói với vị Tỷ kheo kia rằng Bậc Đạo Sư cho gọi."

"Vâng, bạch Thế Tôn," vị Tỷ kheo đó đáp lời. Vị ấy đến gặp vị Tỷ kheo kia và nói: "Thưa hiền giả, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả."

"Vâng, thưa hiền giả," vị Tỷ kheo kia đáp lời. Vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với vị ấy:

"Có thật không, này Tỷ kheo, rằng sau bữa ăn, khi đi khất thực về, con đã vào trú xứ của mình, nơi con chỉ giữ sự thụ động và im lặng, và con đã không giúp các Tỷ kheo khác khi đến lúc may y?"

"Bạch Thế Tôn, con đang làm công việc của riêng mình."

Khi ấy, Đức Phật, biết được dòng suy nghĩ của vị Tỷ kheo đó, đã nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, đừng phàn nàn về vị Tỷ kheo này. Vị Tỷ kheo này chứng được bốn tầng thiền—những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm trí được rèn luyện ở mức độ cao)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn hay trở ngại. Vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này, và sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Không phải bằng sự biếng nhác,
hay với chút sức mọn
mà chứng được Niết bàn (extinguishment / sự dập tắt, giải thoát khỏi mọi khổ đau),
sự giải thoát khỏi mọi khổ đau.

Vị Tỷ kheo trẻ này,
bậc tối thượng trong nhân loại,
mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương (Māra / hiện thân của sự cám dỗ và cái chết) và đoàn tùy tùng."

SN 21.5 Kinh Sujāta (Với Tôn giả Sujāta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Sujāta đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: "Vị thiện nam tử này đẹp cả hai phương diện. Vị ấy có ngoại hình thu hút, ưa nhìn, đáng mến, với vẻ đẹp vượt trội. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Vị Tỷ kheo này thật sự đẹp.
Tâm ngài chân thật,
không bị ràng buộc, không vướng mắc,
đạt được sự an tịnh do không còn chấp thủ.
Ngài mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng."

SN 21.6 Kinh Lakuṇḍaka Bhaddiya (Với Tôn giả Bhaddiya Lùn)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Bhaddiya Lùn đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, các con có thấy vị Tỷ kheo đang đến kia không—xấu xí, khó coi, dị dạng, và bị các Tỷ kheo khác coi thường?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà vị ấy chưa đạt được. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Ngỗng, diệc, và công,
voi và hươu sao---
dù thân hình không bằng nhau,
tất cả đều sợ sư tử.

Con người cũng vậy---
nếu một người nhỏ bé mà có trí tuệ,
họ mới thực sự là người vĩ đại,
chứ không phải kẻ ngốc có thân hình đẹp."

SN 21.7 Kinh Visākha (Với Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli, đang giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại. Lời của ngài trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc, thể hiện được ý nghĩa, đầy đủ và không phụ thuộc.

Vào buổi chiều muộn, Đức Phật ra khỏi nơi độc cư và đi đến giảng đường. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, ai đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại vậy?"

"Bạch Thế Tôn, đó là Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli."

Khi ấy, Đức Phật nói với Visākha:

"Lành thay, lành thay, Visākha! Thật tốt khi con giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại, với những lời trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc, thể hiện được ý nghĩa, đầy đủ và không phụ thuộc."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Dù một người sáng suốt ở giữa những kẻ ngu si,
họ sẽ không biết nếu người ấy không nói.
Nhưng khi người ấy nói, họ sẽ biết,
người ấy đang dạy về trạng thái bất tử.

Người ấy nên nói và minh họa giáo pháp,
giương cao ngọn cờ của các bậc hiền triết.
Lời nói hay là ngọn cờ của các bậc hiền triết,
vì giáo pháp chính là ngọn cờ của các bậc hiền triết."

SN 21.8 Kinh Nanda (Với Tôn giả Nanda)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Nanda—em họ của Đức Phật về phía mẹ—mặc y được là ủi phẳng phiu, kẻ mắt, và mang một chiếc bát đen bóng loáng. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

"Này Nanda, là một thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin từ đời sống thế tục, con không nên mặc y được là ủi phẳng phiu, kẻ mắt, và mang một chiếc bát đen bóng loáng. Điều phù hợp với con là sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo (rag robes / y làm từ vải vụn nhặt được), và sống không bận tâm đến các thú vui giác quan."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Khi nào Ta sẽ thấy Nanda
trong rừng, mặc y phấn tảo,
sống bằng những mẩu thức ăn người lạ cúng dường,
không bận tâm đến các thú vui giác quan?"

Sau đó một thời gian, Tôn giả Nanda đã sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và sống không bận tâm đến các thú vui giác quan.

SN 21.9 Kinh Tissa (Với Tôn giả Tissa)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Tissa—em họ của Đức Phật về phía cha—đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Ngài trông khổ sở và buồn bã, nước mắt lưng tròng. Đức Phật bèn nói với ngài:

"Này Tissa, tại sao con lại ngồi đó khổ sở và buồn bã, nước mắt lưng tròng vậy?"

"Bạch Thế Tôn, đó là vì các Tỷ kheo vây quanh con từ mọi phía để chế nhạo và giễu cợt."

"Đó là vì con sách tấn người khác, nhưng lại không chấp nhận sự sách tấn. Là một thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin từ đời sống thế tục, con không nên sách tấn người khác mà không chấp nhận sự sách tấn. Điều phù hợp với con là sách tấn người khác và chấp nhận sự sách tấn."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Tại sao con tức giận? Đừng tức giận!
Không tức giận thì tốt hơn, này Tissa.
Vì đời sống phạm hạnh này được sống
để loại bỏ sự tức giận, ngã mạn, và sự miệt thị."

SN 21.10 Kinh Vị Tỷ Kheo Tên Thera (Theranāmakasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo tên là Thera (Trưởng lão). Vị ấy sống một mình và tán thán việc sống một mình. Vị ấy vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi thiền riêng một mình, và chuyên tâm kinh hành một mình.

Sau đó, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài: "Bạch Thế Tôn, có một vị Tỷ kheo tên là Thera sống một mình và tán thán việc sống một mình."

Đức Phật bèn gọi một vị Tỷ kheo: "Này Tỷ kheo, hãy nhân danh ta nói với Tỷ kheo Thera rằng Bậc Đạo Sư cho gọi."

"Vâng, bạch Thế Tôn," vị Tỷ kheo đó đáp lời. Vị ấy đến gặp Tôn giả Thera và nói: "Thưa hiền giả Thera, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả."

"Vâng, thưa hiền giả," vị Tỷ kheo kia đáp lời. Vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với vị ấy:

"Có thật không, này Thera, rằng con sống một mình và tán thán việc sống một mình?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Nhưng con sống một mình và tán thán việc sống một mình theo cách nào?"

"Bạch Thế Tôn, con vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi thiền riêng một mình, và chuyên tâm kinh hành một mình. Đó là cách con sống một mình và tán thán việc sống một mình."

"Đó là một kiểu sống một mình, Ta không phủ nhận. Nhưng về cách sống một mình được viên mãn một cách chi tiết, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn," vị ấy đáp.

"Và này Thera, làm thế nào để việc sống một mình được viên mãn một cách chi tiết? Đó là khi những gì thuộc về quá khứ đã được từ bỏ, những gì thuộc về tương lai đã được buông xả, và lòng ham muốn và tham lam đối với các kiếp sống hiện tại đã được loại bỏ. Đó là cách sống một mình được viên mãn một cách chi tiết."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Bậc toàn thắng, bậc toàn giác, thật vô cùng trí tuệ,
không bị vấy bẩn giữa vạn pháp.
Ngài đã từ bỏ tất cả, giải thoát trong sự đoạn tận của ái dục:
Ta tuyên bố người ấy là người sống một mình."

SN 21.11 Kinh Mahākappina (Với Tôn giả Mahākappina)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Mahākappina đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, các con có thấy vị Tỷ kheo đang đến kia không—da trắng, người gầy, mũi cao?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà vị ấy chưa đạt được. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giai cấp quý tộc là cao quý nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu minh và hạnh
là cao quý nhất giữa chư thiên và loài người.

Mặt trời rực rỡ ban ngày,
mặt trăng tỏa sáng ban đêm,
người quý tộc sáng ngời trong áo giáp,
và người Bà la môn sáng ngời trong thiền định.
Nhưng suốt cả ngày lẫn đêm,
Đức Phật tỏa sáng với vinh quang."

SN 21.12 Kinh Những Người Bạn Đồng Hành (Sahāyakasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, hai vị Tỷ kheo là bạn đồng hành, là đệ tử của Tôn giả Mahākappina, đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy họ từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, các con có thấy hai vị Tỷ kheo đang đến kia không, họ là bạn đồng hành, là đệ tử của Tôn giả Mahākappina?"

"Vâng, bạch Thế Tôn."

"Hai vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà họ chưa đạt được. Và họ đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Họ sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Hai Tỷ kheo bạn đồng hành này
đã ở bên nhau từ lâu.
Chánh pháp đã gắn kết họ lại,
giáo pháp do Đức Phật tuyên thuyết.

Họ đã được Tôn giả Kappina huấn luyện thuần thục
trong giáo pháp do Bậc Thánh tuyên thuyết.
Họ mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng."