Tương Ưng Các Vị Trưởng Làng
Chương về Các Vị Trưởng Làng
SN 42.1 Kinh Caṇḍa (Nóng Nảy)
Tại Sāvatthī.
Khi ấy, vị trưởng làng tên là Caṇḍa (Nóng Nảy) đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, do đâu là nguyên nhân, do đâu là duyên cớ mà một số người bị xem là nóng nảy, trong khi những người khác lại được xem là hiền hòa?"
"Này trưởng làng, hãy xem một người chưa từ bỏ lòng tham. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Họ chưa từ bỏ lòng căm ghét. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Họ chưa từ bỏ sự mê muội. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà một số người bị xem là nóng nảy.
Nhưng hãy xem một người đã từ bỏ tham (greed / lòng tham). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Họ đã từ bỏ sân (hate / lòng căm ghét). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Họ đã từ bỏ si (delusion / sự mê muội). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà một số người được xem là hiền hòa."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng tên là Caṇḍa thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được vật ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.2 Kinh Tālapuṭa
Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Khi ấy, Tālapuṭa, một trưởng đoàn kịch, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: 'Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.' Đức Phật nói gì về điều này?"
"Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó."
Lần thứ hai...
Và lần thứ ba, Tālapuṭa thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: 'Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.' Đức Phật nói gì về điều này?"
"Rõ ràng là, trưởng làng, ta không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: 'Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.' Tuy nhiên, ta sẽ trả lời ông.
Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi lòng tham, và vẫn bị lòng tham trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn khêu gợi hơn nữa. Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi lòng căm ghét, và vẫn bị lòng căm ghét trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn đáng ghét hơn nữa. Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi sự mê muội, và vẫn bị sự mê muội trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn mê muội hơn nữa. Và như vậy, tự mình sao nhãng và buông lung, họ lại khuyến khích người khác sao nhãng và buông lung. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào địa ngục tên là 'Tiếng Cười'.
Nhưng nếu ông có quan điểm như vậy: 'Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.' Đây là tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm) của ông. Một người có tà kiến sẽ được tái sanh vào một trong hai nơi, ta nói: địa ngục hoặc cõi súc sanh."
Khi Ngài nói vậy, Tālapuṭa khóc và bật khóc nức nở.
"Đây là điều mà ta đã không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: 'Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.'"
"Bạch Thế Tôn, con không khóc vì những gì Đức Phật nói. Nhưng bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài con đã bị lừa dối, bị gạt, và bị lừa phỉnh bởi các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, khi họ nói: 'Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.'
Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được vật ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Bạch Thế Tôn, xin cho con được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật?"
Và trưởng đoàn kịch Tālapuṭa đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi xuất gia, Tôn giả Tālapuṭa đã trở thành một trong những vị A-la-hán (perfected / người đã giác ngộ hoàn toàn).
SN 42.3 Kinh Một Chiến Binh
Khi ấy, Yodhājīva, vị trưởng làng chiến binh, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: 'Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.' Đức Phật nói gì về điều này?"
"Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó."
Lần thứ hai...
Và lần thứ ba, vị trưởng làng chiến binh thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: 'Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.' Đức Phật nói gì về điều này?"
"Rõ ràng là, trưởng làng, ta không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: 'Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.' Tuy nhiên, ta sẽ trả lời ông.
Khi một chiến binh nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, tâm trí của anh ta đã trở nên thấp hèn, suy đồi, và hướng sai lạc khi anh ta nghĩ: 'Mong cho những chúng sanh này bị giết, bị tàn sát, bị sát hại, bị tiêu diệt, hoặc bị hủy diệt!' Kẻ thù của anh ta giết anh ta và kết liễu anh ta, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh vào địa ngục tên là 'Tử Trận'.
Nhưng nếu ông có quan điểm như vậy: 'Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.' Đây là tà kiến của ông. Một người có tà kiến sẽ được tái sanh vào một trong hai nơi, ta nói: địa ngục hoặc cõi súc sanh."
Khi Ngài nói vậy, Yodhājīva, vị trưởng làng chiến binh, khóc và bật khóc nức nở.
"Đây là điều mà ta đã không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: 'Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.'"
"Bạch Thế Tôn, con không khóc vì những gì Đức Phật nói. Nhưng bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài con đã bị lừa dối, bị gạt, và bị lừa phỉnh bởi các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, khi họ nói: 'Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.'
Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.4 Kinh Một Chiến Binh Cưỡi Voi
Khi ấy, một vị trưởng làng nài voi đến gặp Đức Phật... "Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.5 Kinh Một Kỵ Binh
Khi ấy, một vị trưởng làng kỵ binh đến gặp Đức Phật...
"Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.6 Kinh với Con Trai của Asibandhaka
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.
Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, có những vị Bà-la-môn ở phương tây mình khoác rêu, tay mang bình nước, ngâm mình trong nước, và thờ ngọn lửa thiêng. Khi có người qua đời, họ thực sự nâng người đó lên, đưa người đó lên, và dẫn dắt người đó đến thiên đàng. Nhưng còn Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác: Ngài có thể đảm bảo rằng cả thế giới sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời khi thân hoại mạng chung, sau khi chết không?"
"Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ tham lam, sân độc, và có tà kiến. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh họ với hai tay chắp lại và nói: 'Khi người này thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong rằng họ sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời!' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Người đó có được tái sanh lên cõi trời nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Trưởng làng, giả sử một người ném một tảng đá lớn xuống một hồ nước sâu. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh nó với hai tay chắp lại và nói: 'Hãy nổi lên, hòn đá tốt! Hãy trôi đi, hòn đá tốt! Hãy trôi vào bờ, hòn đá tốt!' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Tảng đá lớn đó có nổi lên hay trôi đi nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Cũng vậy, hãy xem một người sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ tham lam, sân độc, và có tà kiến. Mặc dù một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương... khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người không sát sanh, trộm cắp, hay tà dâm. Họ không dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ biết đủ, có lòng nhân từ, và có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh họ với hai tay chắp lại và nói: 'Khi người này thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong rằng họ sẽ bị tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục!' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Người đó có bị tái sanh vào địa ngục nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Trưởng làng, giả sử một người nhấn chìm một hũ bơ sữa hoặc dầu vào một hồ nước sâu và đập vỡ nó. Các mảnh vỡ của nó sẽ chìm xuống, trong khi bơ sữa hoặc dầu trong đó sẽ nổi lên. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh nó với hai tay chắp lại và nói: 'Hãy chìm xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt! Hãy lặn xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt! Hãy đi xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt!' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Bơ sữa hoặc dầu đó có chìm xuống và lặn xuống nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Cũng vậy, hãy xem một người không sát sanh, trộm cắp, hay tà dâm. Họ không dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ biết đủ, có lòng nhân từ, và có chánh kiến. Mặc dù một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương... khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.7 Kinh Ví Dụ về Cánh Đồng
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, chẳng phải Đức Phật sống với lòng bi mẫn với tất cả chúng sanh sao?"
"Đúng vậy, trưởng làng."
"Vậy thì, bạch Thế Tôn, tại sao Ngài lại dạy dỗ một số người một cách kỹ lưỡng và những người khác lại ít kỹ lưỡng hơn?"
"Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao? Giả sử một người nông dân có ba thửa ruộng: một thửa tốt, một thửa trung bình, và một thửa xấu—đất xấu toàn cát và muối. Ông nghĩ sao? Khi người nông dân đó muốn gieo hạt, ông ta sẽ gieo ở đâu trước: thửa ruộng tốt, thửa trung bình, hay thửa xấu?"
"Bạch Thế Tôn, ông ấy sẽ gieo trước ở thửa ruộng tốt, sau đó là thửa trung bình, rồi ông ấy có thể gieo hoặc không gieo hạt ở thửa ruộng xấu. Tại sao vậy? Bởi vì ít nhất nó cũng có thể làm thức ăn cho gia súc."
"Đối với ta, các Tỷ kheo và Tỷ kheo ni giống như thửa ruộng tốt. Ta dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ giống như thửa ruộng trung bình. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các vị sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo giống như thửa ruộng xấu, đất xấu toàn cát và muối. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Hy vọng rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.
Giả sử một người có ba cái bình nước: một cái không nứt và không rò rỉ; một cái không nứt nhưng rò rỉ; và một cái vừa nứt vừa rò rỉ. Ông nghĩ sao? Khi người đó muốn chứa nước, họ sẽ chứa ở đâu trước: trong cái bình không nứt và không rò rỉ, cái không nứt nhưng rò rỉ, hay cái vừa nứt vừa rò rỉ?"
"Bạch Thế Tôn, họ sẽ chứa nước trước trong cái bình không nứt và không rò rỉ, sau đó là cái không nứt nhưng rò rỉ, rồi họ có thể chứa hoặc không chứa nước trong cái vừa nứt vừa rò rỉ. Tại sao vậy? Bởi vì ít nhất nó cũng có thể dùng để rửa chén đĩa."
"Đối với ta, các Tỷ kheo và Tỷ kheo ni giống như cái bình nước không nứt và không rò rỉ. Ta dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ giống như cái bình nước không nứt nhưng rò rỉ. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các vị sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo giống như cái bình nước vừa nứt vừa rò rỉ. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Hy vọng rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.8 Kinh Người Thổi Tù Và
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.
Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, là một đệ tử của Kỳ-na giáo, đến gặp Đức Phật, và ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ông: "Này trưởng làng, vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika dạy các đệ tử của mình như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika dạy các đệ tử của mình như thế này: 'Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục. Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo.' Đây là cách vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika dạy các đệ tử của mình."
"'Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo': nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người sát sanh. Nếu chúng ta so sánh các khoảng thời gian trong ngày và đêm, cái nào thường xuyên hơn: những lúc họ đang giết chóc hay những lúc họ không giết chóc?"
"Những lúc họ đang giết chóc ít thường xuyên hơn, trong khi những lúc họ không giết chóc lại thường xuyên hơn."
"'Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo': nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người trộm cắp...
Hãy xem một người tà dâm...
Hãy xem một người nói dối. Nếu chúng ta so sánh các khoảng thời gian trong ngày và đêm, cái nào thường xuyên hơn: những lúc họ đang nói dối hay những lúc họ không nói dối?"
"Những lúc họ đang nói dối ít thường xuyên hơn, trong khi những lúc họ không nói dối lại thường xuyên hơn."
"'Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo': nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Hãy xem một vị thầy nào đó có giáo lý và quan điểm này: 'Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục.' Và có một người đệ tử hết lòng với vị thầy đó. Họ nghĩ: 'Thầy của ta có giáo lý và quan điểm này: "Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục." Nhưng ta đã sát sanh... trộm cắp... tà dâm... hoặc nói dối.' Họ có được quan điểm: 'Ta cũng sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.' Trừ khi họ từ bỏ lời nói đó và suy nghĩ đó, và buông bỏ quan điểm đó, họ sẽ bị đọa xuống địa ngục.
Nhưng hãy xem xét khi một Như Lai (Realized One / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu tri kiến và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn. Bằng nhiều cách, Ngài chỉ trích và lên án việc sát sanh, nói rằng: 'Hãy ngừng sát sanh!' Ngài chỉ trích và lên án việc trộm cắp... tà dâm... nói dối, nói rằng: 'Hãy ngừng nói dối!' Và có một người đệ tử hết lòng với vị thầy đó. Rồi họ suy ngẫm: 'Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc sát sanh, nói rằng: "Hãy ngừng sát sanh!" Nhưng ta đã sát sanh ở một mức độ nào đó. Điều đó không đúng, không tốt, và ta cảm thấy hối hận vì điều đó. Nhưng ta không thể hoàn tác những gì ta đã làm.' Suy ngẫm như vậy, họ từ bỏ việc sát sanh, và trong tương lai họ không sát sanh nữa. Đó là cách để từ bỏ hành vi xấu này và vượt qua nó.
'Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc trộm cắp...'
'Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc tà dâm...'
'Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc nói dối, nói rằng: "Hãy ngừng nói dối!" Nhưng ta đã nói dối ở một mức độ nào đó. Điều đó không đúng, không tốt, và ta cảm thấy hối hận vì điều đó. Nhưng ta không thể hoàn tác những gì ta đã làm.' Suy ngẫm như vậy, họ từ bỏ việc nói dối, và trong tương lai họ không nói dối nữa. Đó là cách để từ bỏ hành vi xấu này và vượt qua nó.
Họ từ bỏ việc sát sanh. Họ từ bỏ việc trộm cắp. Họ từ bỏ việc tà dâm. Họ từ bỏ việc nói dối. Họ từ bỏ lời nói chia rẽ. Họ từ bỏ lời nói thô ác. Họ từ bỏ việc nói chuyện vô ích. Họ từ bỏ lòng tham lam. Họ từ bỏ ác ý và ác tâm. Họ từ bỏ tà kiến và có chánh kiến.
Vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân. Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho mình được nghe thấy ở bốn phương. Cũng vậy, khi tâm giải thoát bằng từ bi đã được phát triển và tu tập như thế này, bất kỳ hành động giới hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm bi... Họ thiền định, lan tỏa tâm hỷ... Họ thiền định, lan tỏa tâm xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân. Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho mình được nghe thấy ở bốn phương. Cũng vậy, khi tâm giải thoát bằng xả đã được phát triển và tu tập như thế này, bất kỳ hành động giới hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.9 Kinh Các Gia Đình
Một thời, Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo thì Ngài đến Nāḷandā. Ở đó, Ngài ở gần Nāḷandā trong vườn xoài của Pāvārika.
Lúc bấy giờ ở Nāḷandā đang có nạn đói và khan hiếm, mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ. Lúc đó, vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika đang cư ngụ tại Nāḷandā cùng với một hội chúng đông đảo các tu sĩ Kỳ-na giáo. Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, là một đệ tử của Kỳ-na giáo, đến gặp vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói với ông:
"Này trưởng làng, hãy đến bác bỏ giáo lý của sa-môn Gotama. Khi đó ông sẽ có được danh tiếng tốt: 'Vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đã bác bỏ giáo lý của sa-môn Gotama, một người thật hùng mạnh và quyền thế!'"
"Nhưng thưa ngài, làm sao con có thể làm được điều này?"
"Này Bà-la-môn, hãy đến gặp sa-môn Gotama và nói với ông ta: 'Bạch Thế Tôn, chẳng phải Ngài bằng nhiều cách đã ca ngợi lòng nhân từ, sự bảo vệ, và lòng bi mẫn đối với các gia đình sao?' Khi ông ta được hỏi như vậy, nếu ông ta trả lời: 'Đúng vậy, trưởng làng,' hãy nói với ông ta thế này: 'Vậy thì Ngài đang làm gì đây, du hành cùng với Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo này trong thời kỳ đói kém và khan hiếm, với mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ? Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!' Khi ông đặt ra thế tiến thoái lưỡng nan này cho ông ta, Đức Phật sẽ không thể nuốt trôi cũng không thể nhổ ra được."
"Vâng, thưa ngài," con trai của Asibandhaka trả lời. Ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika một cách kính trọng, giữ vị ấy ở bên phải mình. Sau đó, ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, chẳng phải Ngài bằng nhiều cách đã ca ngợi lòng nhân từ, sự bảo vệ, và lòng bi mẫn đối với các gia đình sao?"
"Đúng vậy, trưởng làng."
"Vậy thì Ngài đang làm gì đây, du hành cùng với Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo này trong thời kỳ đói kém và khan hiếm, với mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ? Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!"
"Này trưởng làng, ta nhớ lại chín mươi mốt kiếp (eons / một khoảng thời gian rất dài) về trước nhưng ta không biết có gia đình nào bị phá sản chỉ vì cúng dường một ít thức ăn khất thực. Thay vào đó, những gia đình giàu có, sung túc, và thịnh vượng—với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc—tất cả đều có được sự giàu có của họ nhờ lòng quảng đại, sự chân thật, và sự tự chế.
Trưởng làng, có tám nguyên nhân và duyên cớ dẫn đến sự phá sản của các gia đình. Sự phá sản của họ bắt nguồn từ vua chúa, trộm cướp, hỏa hoạn, hoặc lũ lụt. Hoặc tiền tiết kiệm của họ biến mất. Hoặc công việc kinh doanh của họ thất bại do không chuyên tâm vào công việc. Hoặc một kẻ hoang phí được sinh ra trong gia đình, kẻ phung phí và làm tiêu tan tài sản của họ. Và vô thường là thứ tám. Đây là tám nguyên nhân và duyên cớ dẫn đến sự phá sản của các gia đình.
Với tám lý do này được tìm thấy, giả sử có người nói rằng: 'Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!' Trừ khi họ từ bỏ lời nói đó và suy nghĩ đó, và buông bỏ quan điểm đó, họ sẽ bị đọa xuống địa ngục."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.10 Kinh với Maṇicūḷaka
Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, trong khi đoàn tùy tùng của nhà vua đang ngồi cùng nhau trong hoàng cung, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: "Vàng và tiền là thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ chấp nhận và nhận vàng và tiền."
Lúc bấy giờ, vị trưởng làng Maṇicūḷaka đang ngồi trong hội chúng đó. Ông nói với đoàn tùy tùng đó: "Thưa các vị, đừng nói vậy. Vàng và tiền không thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ không chấp nhận cũng không nhận vàng và tiền. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, và từ chối vàng và tiền." Ông đã có thể thuyết phục được hội chúng đó.
Sau đó, Maṇicūḷaka đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra. Sau đó, ông nói: "Khi trả lời như vậy, con tin rằng con lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật. Con tin rằng lời giải thích của con phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích."
"Thật vậy, khi trả lời như vậy, ông lặp lại những gì ta đã nói, và không xuyên tạc ta bằng một điều không thật. Lời giải thích của ông phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích.
Vàng và tiền không thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ không chấp nhận cũng không nhận vàng và tiền. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, và từ chối vàng và tiền.
Nếu vàng và tiền là thích hợp cho họ, thì năm loại dục lạc giác quan cũng sẽ thích hợp. Và nếu năm loại dục lạc giác quan là thích hợp cho họ, ông nên dứt khoát coi họ là không có phẩm chất của một sa-môn hay một người theo dòng họ Thích Ca.
Thay vào đó, trưởng làng, ta nói điều này: Rơm có thể được tìm kiếm bởi người cần rơm; gỗ có thể được tìm kiếm bởi người cần gỗ; xe có thể được tìm kiếm bởi người cần xe; thợ có thể được tìm kiếm bởi người cần thợ. Nhưng ta nói rằng không có cách nào họ có thể chấp nhận hay tìm kiếm vàng và tiền."
SN 42.11 Kinh với Bhadraka
Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Malla, gần thị trấn Uruvelakappa của người Malla. Khi ấy, Bhadraka, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, xin hãy dạy cho con về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ."
"Trưởng làng, nếu ta dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ trong quá khứ, nói rằng 'đây là cách nó đã diễn ra trong quá khứ,' ông có thể có những nghi ngờ hoặc không chắc chắn về điều đó. Nếu ta dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ trong tương lai, nói rằng 'đây là cách nó sẽ diễn ra trong tương lai,' ông có thể có những nghi ngờ hoặc không chắc chắn về điều đó. Thay vào đó, trưởng làng, ta sẽ dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ ngay khi ta đang ngồi đây và ông đang ngồi đó. Hãy lắng nghe và chú tâm, ta sẽ nói."
"Vâng, bạch Thế Tôn," Bhadraka trả lời. Đức Phật nói điều này:
"Ông nghĩ sao, trưởng làng? Có người nào ở Uruvelakappa này, nếu họ bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó sẽ gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"
"Có, bạch Thế Tôn."
"Nhưng có người nào ở Uruvelakappa này, nếu họ bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó sẽ không gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"
"Có, bạch Thế Tôn."
"Do đâu là nguyên nhân, trưởng làng, do đâu là duyên cớ mà, nếu điều này xảy ra với một số người, nó có thể gây cho ông sầu muộn, trong khi nếu nó xảy ra với những người khác thì không?"
"Những người mà việc này xảy ra sẽ gây ra sầu muộn là những người tôi ham muốn và yêu thương. Những người mà việc này xảy ra sẽ không gây ra sầu muộn là những người tôi không ham muốn và yêu thương."
"Với hiện tượng hiện tại này được thấy, được biết, tức thời, đạt được, và thấu triệt, ông có thể suy ra quá khứ và tương lai: 'Tất cả những khổ đau đã phát sinh trong quá khứ đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau. Tất cả những khổ đau sẽ phát sinh trong tương lai sẽ bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.'"
"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời! Đức Phật đã nói điều này thật hay! 'Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.'
Con có một cậu con trai tên là Ciravāsi, đang ở trong một ngôi nhà xa nơi đây. Con thức dậy sớm và sai một người đi, nói rằng: 'Này anh, hãy đi xem cậu bé Ciravāsi của ta thế nào.' Cho đến khi họ trở về, con lo lắng: 'Hy vọng không có chuyện gì xảy ra với Ciravāsi!'"
"Ông nghĩ sao, trưởng làng? Nếu Ciravāsi bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó có gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"
"Làm sao mà không được, bạch Thế Tôn?"
"Đây cũng là một cách để hiểu: 'Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.'
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Trước khi ông nhìn thấy hoặc nghe nói về mẹ của Ciravāsi, ông có bất kỳ ham muốn, tình yêu, hay sự yêu mến nào đối với bà ấy không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Vậy thì có phải vì ông nhìn thấy hoặc nghe nói về bà ấy mà ông có ham muốn, tình yêu, hay sự yêu mến đối với bà ấy không?"
"Vâng, bạch Thế Tôn."
"Ông nghĩ sao, trưởng làng? Nếu mẹ của Ciravāsi bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó có gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"
"Làm sao mà không được, bạch Thế Tôn?"
"Đây cũng là một cách để hiểu: 'Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.'"
SN 42.12 Kinh với Rāsiya
Khi ấy, Rāsiya, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe điều này: 'Sa-môn Gotama chỉ trích mọi hình thức khổ hạnh. Ngài dứt khoát lên án và tố cáo những người khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ.' Những người nói như vậy có lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có bất kỳ cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích không?"
"Trưởng làng, những người nói như vậy không lặp lại những gì ta đã nói. Họ xuyên tạc ta bằng những điều sai sự thật, rỗng tuếch, và không đúng.
Hai cực đoan này không nên được một người xuất gia tu tập. Say đắm trong các thú vui giác quan, là thấp hèn, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, và vô ích. Và say đắm trong sự hành xác, là đau khổ, không cao thượng, và vô ích.
Tránh xa hai cực đoan này, Như Lai đã hiểu được con đường thực hành trung đạo, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, và dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / thắng tri), giác ngộ, và Niết-bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt).
Và con đường thực hành trung đạo đó là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý) này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Đây, trưởng làng, là con đường thực hành trung đạo đã được Như Lai hiểu, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, và dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn.
Có ba loại người tìm cầu lạc thú trên thế gian. Ba loại nào? Hãy xem một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước.
Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước.
Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước. Họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể bị chỉ trích trên ba phương diện. Ba phương diện nào? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện, và được ca ngợi trên một phương diện. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện này, và được ca ngợi trên phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên một phương diện, và được ca ngợi trên hai phương diện. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên phương diện này, và được ca ngợi trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên một phương diện, và bị chỉ trích trên ba phương diện. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Ba cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên một phương diện này, và bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên hai phương diện, và bị chỉ trích trên hai phương diện. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện này, và bị chỉ trích trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên ba phương diện, và bị chỉ trích trên một phương diện. Ba cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên ba phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, nhưng không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên một phương diện, và bị chỉ trích trên hai phương diện. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên một phương diện này, và bị chỉ trích trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện, và bị chỉ trích trên một phương diện. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Nhưng họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Họ có thể được ca ngợi trên ba phương diện và bị chỉ trích trên một phương diện. Ba cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên ba phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên bốn phương diện. Bốn cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát. Đây là cơ sở thứ tư để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên bốn phương diện này.
Có ba loại người khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ được tìm thấy trên thế gian. Ba loại nào?
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: 'Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!' Họ hành xác và tự hành hạ mình. Nhưng họ không đạt được bất kỳ pháp thiện nào, cũng không nhận ra bất kỳ sự khác biệt siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành khác đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: 'Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!' Họ hành xác và tự hành hạ mình. Và họ đạt được một pháp thiện, nhưng không nhận ra bất kỳ sự khác biệt siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành khác đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: 'Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!' Họ hành xác và tự hành hạ mình. Và họ đạt được một pháp thiện, và họ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành đầu tiên có thể bị chỉ trích trên ba phương diện. Ba phương diện nào? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không đạt được một pháp thiện. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành thứ hai có thể bị chỉ trích trên hai phương diện, và được ca ngợi trên một phương diện. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ đạt được một pháp thiện. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện này, và được ca ngợi trên một phương diện.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành thứ ba có thể bị chỉ trích trên một phương diện, và được ca ngợi trên hai phương diện. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ đạt được một pháp thiện. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên một phương diện này, và được ca ngợi trên hai phương diện.
Có ba loại bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết. Ba loại nào?
Một người tham lam, vì lòng tham, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ lòng tham, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Một người sân hận, vì lòng sân hận, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ lòng sân hận, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Một người si mê, vì sự si mê, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ sự si mê, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Đây là ba loại bào mòn hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết."
Khi Ngài nói vậy, Rāsiya, vị trưởng làng, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
SN 42.13 Kinh với Pāṭaliya
Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Koliya, nơi họ có một thị trấn tên là Uttara. Khi ấy, Pāṭaliya, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, con đã nghe điều này: 'Sa-môn Gotama biết ma thuật.' Những người nói như vậy có lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có bất kỳ cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích không? Vì chúng con không muốn xuyên tạc Đức Thế Tôn."
"Trưởng làng, những người nói như vậy lặp lại những gì ta đã nói, và không xuyên tạc ta bằng một điều không thật. Lời giải thích của họ phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích."
"Bạch Thế Tôn, chúng con đã không tin rằng những gì các vị sa-môn và Bà-la-môn đó nói là thật. Nhưng có vẻ như sa-môn Gotama là một nhà ma thuật!"
"Trưởng làng, có phải người nói 'Ta biết ma thuật' cũng nói 'Ta là một nhà ma thuật' không?"
"Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ!"
"Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông có biết các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ không?"
"Con biết họ, bạch Thế Tôn."
"Và công việc của họ là gì?"
"Để ngăn chặn bọn cướp và để truyền tin cho người Koliya."
"Ông nghĩ sao, trưởng làng? Các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ là người có đạo đức hay vô đạo đức?"
"Con biết rằng họ là người vô đạo đức, có tính cách xấu, bạch Thế Tôn. Họ là một trong số những người trên thế gian vô đạo đức và có tính cách xấu."
"Có đúng không khi nói rằng Pāṭaliya biết các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ là người vô đạo đức, có tính cách xấu, nên ông ta cũng phải là người vô đạo đức và có tính cách xấu?"
"Không, bạch Thế Tôn. Con hoàn toàn khác với các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ, chúng con có tính cách hoàn toàn khác nhau."
"Vậy nếu ông có thể biết những quan chức có tính cách xấu đó trong khi ông không phải là người có tính cách xấu, tại sao Như Lai không thể biết ma thuật, mà không phải là một nhà ma thuật?
Ta hiểu ma thuật và kết quả của nó. Và ta hiểu cách các nhà ma thuật thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Ta hiểu việc sát sanh và kết quả của nó. Và ta hiểu cách những người sát sanh thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục. Ta hiểu việc trộm cắp... tà dâm... nói dối... nói lời chia rẽ... nói lời thô ác... nói chuyện vô ích... tham lam... ác ý... tà kiến và kết quả của nó. Và ta hiểu cách những người có tà kiến thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Có một số sa-môn và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm này: 'Mọi người sát sanh đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này. Mọi người trộm cắp... tà dâm... nói dối đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này.'
Nhưng ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức, tắm gội và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, đang hưởng lạc với phụ nữ như thể ông ta là một vị vua. Ông có thể hỏi ai đó: 'Này bạn, người đàn ông đó đã làm gì?' Và họ sẽ trả lời: 'Này bạn, người đàn ông đó đã tấn công kẻ thù của nhà vua và giết họ. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. Đó là lý do tại sao ông ta đeo vòng hoa và trang sức, tắm gội và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, đang hưởng lạc với phụ nữ như thể ông ta là một vị vua.'
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng bằng một sợi dây thừng chắc chắn. Đầu ông ta bị cạo trọc và ông ta bị dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác trong tiếng trống khắc nghiệt. Sau đó, ông ta bị đưa ra cổng phía nam và ở đó, phía nam thành phố, họ chặt đầu ông ta. Ông có thể hỏi ai đó: 'Này bạn, người đàn ông đó đã làm gì?' Và họ sẽ trả lời: 'Này bạn, người đàn ông đó là kẻ thù của nhà vua, và ông ta đã sát hại một người đàn ông hoặc một người phụ nữ. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.'
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa."
"Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người sát sanh đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai?"
"Họ sai, bạch Thế Tôn."
"Nhưng những người nói những điều rỗng tuếch, sai sự thật: họ có đạo đức hay vô đạo đức?"
"Vô đạo đức, bạch Thế Tôn."
"Và những người vô đạo đức, có tính cách xấu đang thực hành sai hay đúng?"
"Họ đang thực hành sai, bạch Thế Tôn."
"Và những người đang thực hành sai có tà kiến hay chánh kiến?"
"Họ có tà kiến, bạch Thế Tôn."
"Nhưng có thích hợp để tin tưởng vào những người có tà kiến không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức... 'Này bạn, người đàn ông đó đã tấn công kẻ thù của nhà vua và lấy đi những vật có giá trị của họ. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. ...' ...
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng... 'Này bạn, người đàn ông đó đã lấy một thứ gì đó từ một ngôi làng hoặc vùng hoang dã, với ý định trộm cắp. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa."
"Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người trộm cắp đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai? ... Có thích hợp để tin tưởng vào họ không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức... 'Này bạn, người đàn ông đó đã có quan hệ tình dục với vợ của một vị vua thù địch. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. ...' ...
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng... 'Này bạn, người đàn ông đó đã có quan hệ tình dục với phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình tốt. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa."
"Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người tà dâm đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai? ... Có thích hợp để tin tưởng vào họ không?"
"Không, bạch Thế Tôn."
"Và ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức... 'Này bạn, người đàn ông đó đã làm vui lòng nhà vua bằng những lời nói dối. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. ...' ...
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng... 'Này bạn, người đàn ông đó đã phá hoại một gia chủ hoặc con của gia chủ bằng cách nói dối. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.' Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
"Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa."
"Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người nói dối đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai?"
"Họ sai, bạch Thế Tôn."
"Nhưng những người nói những điều rỗng tuếch, sai sự thật: họ có đạo đức hay vô đạo đức?"
"Vô đạo đức, bạch Thế Tôn."
"Và những người vô đạo đức, có tính cách xấu đang thực hành sai hay đúng?"
"Họ đang thực hành sai, bạch Thế Tôn."
"Và những người đang thực hành sai có tà kiến hay chánh kiến?"
"Họ có tà kiến, bạch Thế Tôn."
"Nhưng có thích hợp để tin tưởng vào những người có tà kiến không?"
"Không, bạch Thế Tôn.
Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời! Con có một nhà khách, nơi có giường, ghế, bình nước, và đèn dầu. Bất cứ khi nào một vị sa-môn hay Bà-la-môn đến ở, con chia sẻ những gì con có một cách tốt nhất có thể. Có một lần, bạch Thế Tôn, bốn vị thầy có quan điểm, tín ngưỡng, và ý kiến khác nhau đã đến ở tại nhà khách của con.
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: 'Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay hiến tế. Không có quả hay kết quả của các hành động tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và không có sa-môn hay Bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.'
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: 'Có ý nghĩa trong việc cho đi, cúng dường, và hiến tế. Có quả và kết quả của các hành động tốt và xấu. Có đời sau. Có những thứ như cha và mẹ, và chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và có các sa-môn và Bà-la-môn hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.'
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: 'Người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Không có điều xấu nào được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, không có công đức nào đến từ đó, và không có kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật không có công đức hay kết quả của công đức.'
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: 'Người hành động làm một việc xấu khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Một việc xấu được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, công đức đến từ đó, và một kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật có công đức và kết quả của công đức.'
Con đã có nghi ngờ và không chắc chắn về điều đó: 'Tôi tự hỏi ai trong số những vị sa-môn và Bà-la-môn đáng kính này nói sự thật, và ai nói dối?'"
"Trưởng làng, không có gì lạ khi ông nghi ngờ và không chắc chắn. Nghi ngờ đã nảy sinh trong ông về một vấn đề không chắc chắn."
"Con hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật có khả năng dạy cho con để con có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn này."
"Trưởng làng, có một loại định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Và định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử đã từ bỏ việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, ác ý, và tà kiến.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: 'Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: "Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay hiến tế. Không có quả hay kết quả của các hành động tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và không có sa-môn hay Bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình." Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.'
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi (samādhi / định, sự tập trung tâm ý). Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: 'Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: "Có ý nghĩa trong việc cho đi, cúng dường, và hiến tế. Có quả và kết quả của các hành động tốt và xấu. Có đời sau. Có những thứ như cha và mẹ, và chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và có các sa-môn và Bà-la-môn hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình." Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.'
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: 'Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: "Người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Không có điều xấu nào được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, không có công đức nào đến từ đó, và không có kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật không có công đức hay kết quả của công đức." Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.'
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: 'Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: "Người hành động làm một việc xấu khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Một việc xấu được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, công đức đến từ đó, và một kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật có công đức và kết quả của công đức." Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.'
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm bi... hỷ... xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: 'Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.'
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó."
Khi Ngài nói vậy, Pāṭaliya, vị trưởng làng, thưa với Đức Phật: "Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."